Sunday, October 14, 2007

Người Sài Gòn


Trà Mi

Nguồn: christofabt.de

Đôi dép da lê khắp phố khắp đường
Đôi vai gầy ôm chặt gió sương
Tóc ai đã bạc màu theo năm tháng
Ba mươi năm rồi, chỉ còn thoảng nét người thương

Anh đây à! sao màu da cháy xạm
Sao môi thâm! sao mắt đỏ cả tròng?

Ừ, gió bụi thành đô đen vạt áo
Móng tay vàng vì thuốc đốt, hút chưa xong
....

Và ... mắt anh đỏ?
Vì đời anh họ ép!



Lần đầu nhìn lại người Sài Gòn, ngỡ ngàng nhất có lẽ là những khuôn mặt da xạm nắng. Cũng có thể vì không còn trẻ, thị tuyến thay đổi, không còn ngắm nhìn những người ở tuổi thanh xuân, tuổi của mình hơn ba mươi năm trước. Chợt nhìn, ấn tượng đầu tiên trên những khuôn mặt đen xạm, khó đăm đăm ấy là làn môi thâm xịt.

Người Sài Gòn bây giờ lại bươn chải suốt ngày ngoài đường phố
Nguồn: photo.net

Nắng Sài Gòn có lẽ đâu thay đổi theo năm tháng. Chẳng lẽ lỗ thủng ozone lại nằm ngay trên đỉnh đầu Sài Gòn? Không phải thế, mặt người Sài Gòn đen hơn, da xạm hơn vì đời sống người Sài Gòn đã thay đổi. Người Sài Gòn đông lắm. Người Sài Gòn bây giờ lại bươn chải suốt ngày ngoài đường phố – nếu không trên vỉa hè hàng quán thì cũng trên yên xe chạy cơm chạy nước. Tỉ số người đứng đường chạy phố so với người lao động trong cao ốc, công sở hẳn chênh lệch rất nhiều. Sài Gòn cũ cũng có người đen đúa như bác Bảy xích lô, anh Hai ba bánh. Người Sài Gòn bây giờ thoáng nhìn cứ ngỡ là bà con gần với anh Hai, bác Bẩy ngày xưa.
Độ ô nhiễm không khí, thiếu trong sạch môi sinh của vùng đất mật độ cao như Sài Gòn là một nguyên cớ khác làm xạm da người. Chỉ cần ngồi xe gắn máy chạy mươi phút ở những vòng quay giao thông hay trục lộ chính, ống thở, cổ họng sẽ trở thành những tiềm năng dầu hoả. Mực lưu thông vô định của vô số xe gắn máy, kể cả những loại xe “sáu bẩy”, trên đường phố là diễn trình sản xuất... bụi tối ưu. “Sáu bẩy” là những xe bắt đầu lưu hành từ năm 1967!

Bụi ở trung tâm thành phố khác với bụi ven đô. Trên những mặt đường lớn ở vùng ngoại ô, ngoài bụi khói xe gắn máy người ta còn phải hít thở bụi đất xe vận tải. Trục lộ giao thông ở đây không khác gì công trường xây dựng. Xe vận tải thường là những xe chở đất đá từ những khu đang kiến thiết đem đi đổ các nơi khác. Mười xe thì cả mười đã được “cải tiến”, hàn thùng xe lên cao, nâng trọng tải, chở được nhiều hơn. Chi tiết tạo mẫu, tiêu chuẩn bảo hành xe của các nhà sản xuất chỉ là chuyện nhỏ, có gì đáng để chủ xe quan tâm? Chở nhiều, chạy nhanh, kiếm nhiều tiền, rơi rớt tí đất đá xuống đường có hề chi. Không khéo lại còn được tiếng đang đi làm lại lịch sử như Mỵ Châu ngồi sau lưng vua cha rải lông ngỗng cho Trọng Thủy theo tìm.

Xa lộ Hà nội (tên mới) bây giờ có lẽ cũng lấm bụi đường không kém xa lộ Biên Hoà (tên cũ) ngày chưa trải nhựa.

- Này em, Sài Gòn không có người kiểm tra luật giao thông vận tải à?

- Ha! Người kiểm tra và thi hành luật cũng là chủ của những chiếc xe tải đang rải đất , làm rớt đá khắp đường đấy anh ơi!

Ấn tượng về da dẻ người Sài Gòn như thế có lẽ chỉ giới hạn cho đa số đàn ông làm việc, lái xe suốt ngày trên đường phố. Phụ nữ ở đây hay che mặt, che tay khi lái xe và mình cũng không có dịp nhìn gần nên không hiểu đen trắng ra sao.

Thử đọc tiêu đề của vài mẩu tin về thiên nhiên và môi trường xem người trong nước đang nghĩ gì? Làm gì để gìn giữ Việt Nam?

Đó chỉ là tin đồn kiểu “voi xuống núi, hổ về làng”?
Nguồn: thiennhien.net

Mẩu tin của TTXVN đăng ngày 27/6/2006 ở trang Thiên nhiên Việt Nam, với tựa đề Phối hợp sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, ghi:

Phạm Khôi Nguyên, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và Nguyễn Tiến Quân Chủ tịch Liên minh các hợp tác xã Việt Nam đã ký kết Chương trình phối hợp về phát huy vai trò của kinh tế tập thể trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Ở một tin khác cùng trang Ai đã hạ sát con bò tót ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông? Cạnh bên là tấm hình Đầu và 4 chân con bò tót bị giết tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông.

Nhưng làm gì có chuyện ấy, cán bộ, nhà nước CHXHCNVN nói như thế này với Phan Thiên Sơn của báo Tiền Phong Online về chuyện con bò tót bị hạ sát, vào chiều ngày 22/6:

Nguyễn Văn Cảnh - Phó giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông - giải thích, rằng đó chỉ là tin đồn kiểu “voi xuống núi, hổ về làng” chứ trên thực tế chưa có bất kỳ cán bộ, nhân viên kiểm lâm nào ở huyện Đakrông nhìn thấy mặt mũi con bò tót.

Và trả lời về một phần xác của bò tót ngay tại trụ sở Khu Bảo tồn thiên nhiên Đakrông, Lê Thanh Tuyền - Trưởng phòng kỹ thuật của khu bảo tồn, đành xác nhận đó là con bò tót bị giết hại tại rừng Trừ Lấu cách nay khoảng 10 ngày, nhưng bằng cách nào mà khu bảo tồn có được phần đầu và 4 chân bò tót thì ông không biết.

Đúng là đầu voi đuôi chuột. Phối với hợp, phát với chả huy... để bảo vệ môi trường! Làm thế nào, khi nào làm, ai làm lại là những chuyện khác!

Tỉ số đàn ông VN hút thuốc cao nhất thế giới?
Nguồn: static.flickr.com

Trở lại dung nhan đàn ông và những làn môi thâm xịt. Có lẽ mình không thể lôi ông Bụi ra toà vì tội làm môi người Sài Gòn thâm lại, mất đi vẻ tươi hồng. Đàn ông Sài Gòn, hay đàn ông Việt Nam nói chung, hút thuốc hàng đầu trên thế giới.

Năm 1999, Việt Nam dùng 32.5000 héc-ta (hectares) đất trồng, hái 35.300 tấn thuốc lá. Với 26 xưởng, cả nước đã sản xuất hơn 30 tỉ điếu thuốc lá (gấp 3 lần sản xuất năm 1970) (1) chưa kể hàng triệu điếu thuốc nhập cảng lậu hàng năm (2). Thống kê của WB cho hay 40% dân VN, 80% đàn ông VN hút thuốc – tỉ lệ cao nhất Á châu. Theo số liệu 1995 của IMF và World Bank, người Việt Nam trên 15 tuổi hút khoảng 60 gói thuốc hàng năm. Theo tìm hiểm mới đây của WHO, tổ chức y tế thế giới, thì con số đàn ông Việt nam hút thuốc lá đang ở hàng vô địch toàn cầu.

FIFA World Cup thì Việt nam chắc chỉ giỏi phần cá độ, nhưng nếu có FISA (Fédération Internationale of Smoker Association) World Cup, Việt Nam đem cúp vàng về Hà Nội là cái chắc.

Trong 3 thập niên sắp đến, số tử vong vì hút thuốc lá ở VN ước khoảng 230.000 người! Tổ chức Y tế Thế giới có bi quan quá không khi ước tính khoảng 10% dân Việt sẽ chết non vì hút thuốc lá? Người ta bi quan quá hay không? Chưa biết. Điều chắc chắn là ngân sách quốc gia đã chi chưa đủ cho những ưu tiên giáo dục, an sinh xã hội, môi sinh môi trường thì làm gì còn phương tiện chữa cho người ung thư, lao, suyễn, sưng phổi, v.v... nói gì lo đến chuyện những cái môi thâm. Nói thế, nhưng nếu là phụ nữ ở Việt Nam, mình sẽ lo không ít; mỗi năm chết non, chết yểu, chết tiệt đi vài phần trăm đàn ông thì độ cung cầu chẳng mấy chốc hỏng bét cho các chị các em. Lúc ấy có lẽ ít nhất phải là người mẫu hay siêu mẫu may ra mới lấy được tấm chồng! Phần còn lại sẽ đi lấy chồng Đại Hàn, và Singapore nếu chê đàn ông Đài Loan?

Người bươn chải ngoài phố thì cần chi bỏ áo trong quần, đi giầy, đội nón
Nguồn: georgiabyte.com
Lại trở về với đàn ông Sài Gòn. Một điểm khác làm kẻ đi xa về thăm thành phố hơi ngỡ ngàng là cách mặc quần áo ngoài đường phố. Sài Gòn chắc chắn không phải là bờ biển thế mà người ở đây cho mình cảm tưởng đang đi vùng sóng nước rù rì. Trang phục thường và tiêu biểu nhất của đàn ông ngoài đường là áo ngắn tay (dài thì xắn lên) bỏ ngoài quần tây, chân đi dép da, đầu rất ít khi thấy mũ rộng vành dù nắng Sài Gòn rất gay gắt và chẳng mấy khi “... chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông” (3). Sài Gòn, xứ nhiệt đới, là người bươn chải ngoài phố thì cần chi bỏ áo trong quần, đi giầy, đội nón. Những cái lỉnh kỉnh tiểu tiết này chỉ làm giảm hiệu năng, gây khó khăn cho việc lái xe trên đường chạy việc. Đấy là người sống chạy ngoài đường phố. Thỉnh thoảng đi qua cổng một trường đại học hay những công tư sở mình cũng thấy áo bỏ ngoài quần lẫn lộn với hình ảnh cũ của những nhà giáo, người sinh viên, người đi làm với y phục tươm tất.

Như thế những ngỡ ngàng, trớt quớt của mình về đàn ông Sài Gòn, chẳng qua vì cái nhìn vội, chỉ thấy được đám đông. Số người sinh hoạt ngoài đường phố này lại nhiều, quá nhiều so với người làm việc trong phòng.

Nghĩ về phụ nữ Sài Gòn với vấn nạn thuốc lá vô tình len men đến vùng kém an ninh, vùng “người mẫu và siêu mẫu”. Kém an ninh? Nguy hiểm là đàng khác! Hạnh, người bạn cho mình tạm trú những ngày trở lại Sài Gòn, lên tiếng cảnh báo:

- Ối! Mấy cô này ghê lắm anh ơi! Đây là mầm mống phá hoại gia cang người ta.

- Xời! Làm gì mang tiếng đến thế?

- Ủa anh không nghe sáu người mẫu vừa bị công an bắt điều tra. Họ thu được nhiều sổ đen ghi tên, số điện thoại di động của đủ hạng người. Doanh gia có, quan chức có, mà cũng có cả Việt kiều nữa nghe anh! Chán mấy anh đàn ông quá!

Như chưa hả dạ, Hạnh đưa đề nghị giúp nhà nước cải tổ làm sạch xã hội:

- Em mà có quyền nghe anh, em chém đầu mấy con nhỏ cao trên một thước bẩy hết đó.

- Ủa, tôi tưởng các cô người mẫu thì đi làm mẫu, đi quảng cáo tiếp thị thì đâu có gì mà bắt, mà bêu đầu người ta, tội nghiệp!

- Trời ơi, anh làm bộ, giả nai không hay chút nào hết á! Mấy cô này là gái gọi cao cấp đó ông ơi!

Gái gọi? Ngày xưa người ta dùng chữ gái “làng chơi” hay gái “ăn sương”. Ngày nay tiên tiến hơn, lại dùng từ như các nước đã tiên tiến, gái gọi, call girls, dịch sát thế thì thôi! Ừ không còn dùng chữ “ăn sương” được, các cô gái gọi này đâu còn phải đầu đường hè phố giữa đêm hứng sương, đón gió nữa. Các cô ấy là các chuyên gia nhân sinh xã hội, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, có cầu chứng, có bằng cấp đầy đủ cả. Người Sài Gòn dạo này nhiều bằng cấp lắm. Từ gái gọi đến trưởng phòng, đến giám đốc, bằng cấp lu bù. Bằng cấp thật đấy! Không phải bằng đóng con dấu củ khoai đâu.

Bằng nhiều ắt phải nhiều trường. Đi quanh Sài Gòn đếm đại học mỏi cả tay. Ngoài những trường cũ như Y, Nha, Văn, Luật, v.v... còn không biết bao nhiêu là trường cao đẳng, trường đại học dân lập. Trường học nhiều, bằng cấp nhiều, người tài có lẽ cũng phải nhiều? Không phải vậy! chỉ cần đọc thoáng qua nhật báo cũng đủ thấy bao nhiêu tiêu cực của ngành giáo dục hiện tại. Từ tuyển sinh ngoài chỉ tiêu, dưới tiêu chuẩn, đến “học giả bằng thật”, “học tại chức”, quên ghi tên mà vẫn có bằng, có khi bài thi để giấy trắng vẫn đậu, v.v...

Lại đọc thử một tin ngành giáo dục — “Kỷ luật một thầy giáo cưỡng hiếp học trò” (Báo Cần Thơ, 20/6/2006) — Nữ sinh trường THPT Kỹ thuật Trần Ngọc Hoằng (Cần Thơ) bị thầy giáo Lê Thái Bình lạm dụng tình dục. Ông Bình đã bị khai trừ Đảng. Công an huyện Cờ Đỏ đang điều tra vụ việc.

Còn phải đợi dài thời gian. Còn phải đợi dài cổ mới đến lúc dân sinh đã giỏi, sản xuất mạnh, xây dựng xã hội tốt đẹp mà không ai còn cần phải trương bằng cấp, khoe học vị nữa! Và nếu vẫn còn cái đảng CSVN thổ tả với đảng viên ưu tú làm thầy giáo, làm quan trong xã hội Việt Nam, có lẽ nạn hiếp dâm gái vị thành niên không chỉ xảy ra ở Hà Nội, Cần Thơ.

Còn CHXHCN Việt Nam thì sẽ mãi còn hàng trăm Lê Thái Bình, còn hàng ngàn Lương Quốc Dũng và đảng vẫn quang vinh!

Copyright © 2006 DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 29/06/2006)



Ghi chú:

(1) Economics of Tobacco in Vietnam. Nguồn: Worldbank
(2) Tobacco News. Tin Tân Hoa Xã ngày 26/4/2006, cho biết hàng năm có khoảng 600 triệu gói thuốc lậu nhập cảng vào Việt Nam, bằng 10-15% tổng sản lượng thuốc lá hàng năm
(3) Áo Lụa Hà Đông, Thơ Nguyên Sa

Ông nhà văn


Trà Mi

Tản mạn một chuyến đi


Ðã một thời làm việc trong báo giới, văn nghệ sĩ, chị Thảo nhờ bạn đưa đi tìm gặp ông May Tình nói chuyện, thăm hỏi. May Tình, một trong những nhà văn tiêu biểu của đất nước miền Nam. Thời gian đi học ở Sài gòn, giỏi lắm là được thầy Dung cho chép chính tả mấy đoạn văn của ông Bình Nguyên Lộc, và của ông May Tình chứ nào đã đọc được quyển truyện nào của nhà văn người miền Nam trân này.

- Hạnh à, chắc mai tụi này nhờ Hoàng chở đi gặp ông May Tình.

Vào Sài Gòn lần này được Hoàng đưa đến trụ sở hội văn nghệ sĩ. Đây là một căn nhà khá lớn ngay trung tâm thành phố. Sân vừa là bãi đậu ô tô vừa là quán nghe nhạc, giải khát. Hoàng ghé lại hỏi ông giữ quán

- Ông May Tình có thường lại đây không anh?

- Dạo này không thấy ổng. Anh vô hỏi trong văn phòng coi sao.

Người trực cho biết đến trụ sở hội các nhà văn tìm dễ hơn.

- Trụ sở tốt quá!

- Nhà cũ của má vợ ông Tổng Thống hồi xưa đó.

Xe len lỏi đi về hướng ngoại thành. Đến hội các nhà văn người ta lại chỉ về nhà văn hoá ở Gò Vấp. Nếu cứ so sánh tạm hai cái trụ sở hội, ở Sài Gòn, có lẽ nhà văn nghèo hơn nghệ sĩ. Người ta biết Lam Trường, Phương Thanh nhiều hơn là May Tình, Ma văn Kháng, Phan thị Vàng Anh.

Về Gò Vấp, về nhà Bà Ngoại của mình ngày xưa. Sài Gòn thay đổi, Gò Vấp cũng đổi thay. Phố xá tấp nập hơn trước. Và dĩ nhiên trí nhớ đã phụ rẫy mình sau những năm dài đằng đẵng.

30 năm sau: Mộ lính VNCH (trái) — Mộ lính VNCS (phải), Nghĩa đã tử mà sao nghĩa chưa tận? — Nguồn: RFA, SGGP
Nhà văn hoá Gò Vấp là chỗ ông nhà văn nói chuyện với chữ nghĩa. Không làm việc ở nhà, tài liệu, sách vở ông đem giao cho thư viện Nhà văn hoá giữ. Mỗi sáng ông đều uống cà phê, thăm bông ngó kiểng ngoài vườn trước khi vào thư viện.

Hoàng và bà chị đứng hỏi thăm bà hàng nước trong khuôn viên Nhà văn hoá. Bước vào trong, căn phòng lớn là khu trưng bày kỷ vật chiến tranh. Đồ dùng thời chiến từ những cái túi đi chợ đến cái đèn pin, cái nồi, siêu nước. Mới đấy mà đã hơn 30 năm; mới đấy mà đã vào tủ bảo tàng. Trên tường là ảnh của, “liệt sĩ”, những người đã chết trong chiến tranh. Nghĩa trang cũng thế, Việt Nam bây giờ có nhiều khu mộ “Liệt sĩ” nhưng không biết hình ảnh, bia mộ của những người chiến sĩ miền Nam thì họ để ở nơi nào?

Tội nghiệp con người! Nghĩa đã tử mà sao nghĩa chưa tận?

Hoàng gọi với vào:

- Mình đi về thôi; người ta sẽ nhắn; sáng mai trở lại mới mong gặp ổng!

Trở lại Gò Vấp lần thứ thứ nhì, cả bọn được tiếp đón ngay. Người đàn ông đang uống cà phê quay lại:

- À cô Thảo, chú Hoàng! Về chơi hả? Còn ai đây?

- Dạ, cậu em xa nhà lâu rồi; kỳ này về dẫn nó tới gặp Bác nói chuyện cho biết May Tình.

Ông nhà văn, Nhà văn hoá Gò Vấp — Ảnh: © DCVOnline/TM

Người đàn ông đầu đã bạc, chải hất ngược ra sau, tóc có rẽ ngôi là tự tóc chứ không phải do người chải. Trên tay, một bên điếu thuốc, bên kia ly cà phê đang uống dở.

- Ngồi, ngồi! kêu cà phê uống nghe!

Đưa cây thuốc lá, chị Thảo cười

- Cái này hút được không Bác? Đi gấp quá không mua được dầu cù là.

- Không hút được thì bán! À không có cù là cũng không sao. Có Việt kiều về tới phi trường rồi mới mua! tốn tiền mà người ta còn chê là hàng nội nữa.

- Nè Bác, không thấy viết bài cho báo nữa sao?

- Có chớ, nhưng viết ít thôi. Để người khác viết nữa. Nhưng mà đã có bài viết báo Tết rồi!

Rút túi áo tờ giấy gập tư, nhà văn già mở ra cho bạn cũ xem nội dung bài Tết của mình.

- À! tui hay lắm nghe! Đang viết hồi ký, phần hai.

- Sao lại chia từng phần vậy Bác?

- Không có tiền in nhiều, viết ít ít, in đỡ tốn.

- Ủa còn tiền hãng phim trả cho Bác làm tư vấn văn hoá Việt Nam đâu rồi?

- Hừ! tụi nó trả có bao nhiêu. Xài hết rồi.

- Còn bên ngoài họ bán sách của Bác có trả bản quyền không?

- Có xu nào đâu chú! Hoàng, đưa tui năm trăm, tui giao cho chú qua đòi mấy ông bên đó. Thôi bốn trăm cũng được.

- Dạ, dạ! để tụi cháu coi!

Bác sẽ vui hay buồn khi biết hình như không có nhà xuất bản hải ngoại nào in lại tác phẩm của May Tình? Và nếu đã in lại chắc người ta cũng không hỏi ý kiến tác giả. Bác sẽ buồn hay vui khi trên mạng internet người ta xếp một truyện ngắn của của May Tình với chú thích “những Truyện ngắn hay nhất... do Nguyễn ... sưu tập, thực hiện – Tác Giả giữ bản quyền”. Bên cạnh là một vài truyện ngắn khác như Rừng Mắm, Chí Phèo, Anh phải sống, Tôi đi học, v.v...

Ở đây, hải ngoại, người ta chạy quanh trên mạng, cắt bài của người khác rồi dán vào trang nhà hay báo của mình (không trích dẫn nguồn hay ghi tác quyền) đem in, đem bán là chuyện thường ngày. Văn hoá đá cá lăn dưa, ăn cắp bản quyền vẫn sống hùng sống mạnh trong báo giới Việt Nam — từ báo nhỏ tới báo lớn, báo nghiệp dư tới báo thương mại! Không ai trả tiền để đọc hay đăng truyện trên mạng đâu! Đừng đợi tiền bản quyền hải ngoại nghe Bác. Bài đăng trên mạng, nhiều người đọc hơn hồi Bác viết nhựt trình; người ta đăng để cho mấy người chưa đọc xong tiếng Việt, như tụi cháu, đã phải sớm bỏ nhà đi học tiếng Tây, tiếng Mỹ, có cơ may tìm học ở những áng văn bất hủ đó.

Như đã hẹn, cuối ngày Hoàng đưa nhà văn già về ăn cơm gia đình và hàn huyên chuyện mới, chuyện cũ.

Vừa đến cửa người khách dường như khựng lại:

- Nhà ai đây?

- Dạ, nhà Hoàng, tụi cháu được cho tá túc ở đây.

- Hồi đi tôi tưởng tới nhà cô Thảo. Bước vô kiếm không thấy cái bàn thờ đốt nhang cho Bà, trớt quớt quá! Hoàng nè! Chú như giám đốc sở Ford Vietnam mà còn bày đặt quá nghe!

- Dạ sao Bác?

- Nhà xe như vầy thì cho tài xế tới đón được rồi; làm chi mất công lái tới lái lui mấy bận từ hôm qua tới giờ!

Khiêm nhường, anh bạn chủ nhà lẳng lặng đi vào trong lấy nước mời người bạn già.

- Bác uống Heineken hay “Tai gơ?”

- Cho chai “ken” đi chú.

- Dạ, Heineken?

Bia “Tay quơ”

- Kêu “ken” một tiếng cho gọn chú mày! Chú ở xa về không biết; người ta kêu là “tay quơ” chớ không phải “Tai gơ”. Mấy thằng đi Karaoke mỏi tay vì “tay quơ” nhiều quá.

Bắt lại chuyện văn nghệ dở dang từ sáng:

- Thỉnh thoảng có đi hội họp với các anh em văn nghệ không Bác?

- Có chớ! Bữa nào không có chuyện gì nói thì đi họp với người ta, vô ngồi nghe. Bữa nào có chuyện muốn nói thì cáo bệnh, ở nhà.

- Chi lạ vậy Bác! Có chuyện nói thì nên đi chứ!

- Không được! Họ đâu muốn nghe mình nói. Vậy thì nằm ngủ ở nhà không tốt hơn sao?

- À! chắc Bác biết ông Lý Văn Sâm?

- Biết chớ, bạn thân à. Hồi ổng ở trong bưng cũng biết.

- Ông Sâm cũng là nhà văn, cũng người miền Nam?

- Ờ!

- Ông Sâm là đại biểu quốc hội.

- Rồi sao chú?

- Sao Bác không phải là đại biểu?

- Xin lỗi chú, lại đây hỏi nhỏ chút coi. Chú ở đâu về?

- Dạ cháu ở bên Bắc Mỹ.

- Xin lỗi, chú không biết con c.. gì ráo! Tui không có Đảng là một chuyện; vô đó cũng có làm gì đâu! Đi họp nhà văn mà người ta còn không muốn nghe mình, nói chi tới quốc hội. Thời buổi ni cô bận quần xì líp chữ “V”, tay ôm điện thoại di động, gìm tay bánh Spacy thì Sài Gòn còn, còn nhiều chuyện nghịch lý. Thôi nhậu đi!

- Hồi Sài Gòn kỷ niệm ba trăm năm lịch sử có gì lạ không Bác.

- À cái đó thì tui có biết chút đỉnh. Tui bận áo dài khăn đống, ngồi xe thổ mộ, dơ tay chào bà con cho có bộ Sài Gòn vậy mà.

À, người ta phải kiếm một người tiêu biểu, đại diện văn hoá miền Nam làm người mẫu trình bày cho trang trọng và cho có vẻ “công bằng”.

Bữa cơm, câu chuyện giữa những người bạn cũ kéo dài đến gần nửa đêm. Ông “chủ Ford Vietnam” lại đưa người bạn già về lại Gò Vấp. Bên ngoài, đường phố đã bớt đi cái ồn ào của xe gắn máy, nhưng sinh hoạt bên lề, hàng quán vẫn còn mở cửa. Đến ngõ vào nhà trọ, May Tình từ giã:

- Tui vô một mình được rồi

Cùng lúc chủ nhà cũng đã nhận ra khách trọ đi chơi khuya về:

- Bữa nay Bác xỉn rồi hả?

- Đâu có, ăn nhiều hơn mọi bữa chứ uống có bao nhiêu.

- Nghe giọng như vầy, chắc Bác ngủ tới trưa mai.

Đường Gò Vấp trở lại Thủ Đức yên lặng hẳn đi. Tâm tư mình vẫn còn bận theo đuổi những câu chuyện quanh đời sống Sài Gòn qua mắt nhìn của một người người không lạ gì với mảnh đất, với thành phố này. Người đàn ông da xạm nắng, môi đen dầy, thuốc lá trên tay, tóc bạc, kính lớn hơn khổ mặt, giọng kể chuyện xác thực, không màu mè, bước đi chậm rãi đã để lại ấn tượng thật đẹp, thật hiền hoà và cũng không thiếu tế nhị, kể cả câu phê bình Việt Kiều Bắc Mỹ lúc ban chiều. Mình đã gặp lại miền Nam đẹp, miền Nam hiền lành trong tâm tưởng ngày xưa.

Cách đây không lâu, Hoàng báo tin cho hay ông May Tình chết.

Ông nhà văn chết giấc hay ngủ thẳng mấy ngày bà chủ nhà mới biết và đưa vào bệnh viện. Khi tỉnh dậy, vợ cũ, bồ lớn, bồ nhí đều có mặt bên giường. Ông May Tình ngoắc tay kêu Hoàng lại giường, thầm thì vào tai:

- Lần tới tui chết, chú để tui chết luôn đi. Một lát chú về, đám cọp cái này xé tui banh xác.

Hồi đầu năm hay tin ông lại vào nhà thương, không phải vì chết giấc hay bị cọp cắn, mà để chữa xương chậu nứt vì bị xe đụng... 7 tháng trước đó.


Copyright © 2006 DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 07/05/2006)



Chú thích
: Ông nhà văn tên thật là Nguyễn Minh Tày sinh năm 1926 (Bính Dần) tại U Minh (Kiên Giang).


Lấy chồng xa xứ


Trà Mi
Em về thưa với mẹ cha
Có cho em lấy chồng xa quê người
Em về hỏi mẹ thầy rồi
Chồng xa cũng lấy, quê người cũng đi

Sốt cả ruột! mấy tuần nay, bà con cô bác báo đài trong ngoài, rần rần nói đến mấy cái đám cưới rình rang của cô dâu Việt Nam với các chàng rể từ các đảo quốc Singapore, Taiwan, Hong Kong, Malaysia,…Quẳng chuyện nấu nướng qua một bên, kêu pizza, hamburger ăn đỡ, bỏ mấy bữa đi tìm hiểu xem đầu đuôi vụ việc như thể nào, biết đâu đấy…


Cô dâu Việt Nam

Trời đất ơi, đúng là thời đại thông tin hiện đại nha! Mới tung một thế “gú-gồ phu” nhằm chữ cô dâu Việt Nam thì chỉ 0.11 giây sau trên mạng đã hiện ra 1,850 chỗ để truy cập thông tin. Nhắm mắt đưa tay bấm đại một link; chèng đéc ơi, quá xá quà xa, có tới gần 90 tấm hình mấy chị em Việt Nam – đủ tư thế, đứng ngồi, ngả lưng, cười mím chi, tay để trên vai, tay rờ bắp vế. Chú thích dưới hình ảnh có vài loại, hàng mới, muốn chồng – chưa có ý trung nhân, thành công – đã tìm được người trong mộng và cả hàng mẫu tức là hình kiểu, coi cho biết cô dâu tương lai cỡ nào thôi.

Làm tới, bấm chuột vào một “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” cũng chỉ được thấy tấm hình bự hơn, phía dưới ghi hàng chữ “Môi giới tại Việt Nam” và tấm ảnh này đã được coi tới hơn 2000 lần rồi. Ngó tới ngó lui cũng không biết thêm thông tin về tuổi tác, sở thích hay ngoại hình như thường đăng trong mục rao vặt tìm bạn bốn phương ngày xưa.

Đã trót thì trét luôn – phải ghi tên vô làm hội viên của trang môi giới hôn nhân này mới được “tìm hiểu” được các mỹ nữ đang gieo cầu trên mạng. Vô tới thâm cung, đánh vào khung tìm kiếm khoảng tuổi từ 18 tới 80 (cho chắc ăn), dí chuột vào nút search thì thấy được 10 trang hình ảnh và một số thông tin cần, dù chưa đủ, để qua vòng sơ thẩm. Trên 10 trang – gần 100 phụ nữ, tuổi từ 19 đến 40, độc thân hay đã một (hoặc vài) lần dang dở cũng có – chỉ thấy hai giai nhân từ Việt nam là Minh Hằng và Cindy.


Minh Hằng
Minh Hằng, 29 tuổi, độc thân, không hút thuốc, không ăn chay, học lực tiểu học, nói tiếng Việt và Quảng Đông thông thạo, biết sơ sơ tiếng Quan Thoại và tiếng Anh. Thích nấu nướng. Mắt nâu, tóc đen, cao khoảng 1m57 đến 1m69. Tính tình đơn giản, trầm lặng. Không đòi hỏi gì nhiều ở ý trung nhân. Tìm chồng từ 35 đến 60 tuổi.


Cindy

Cindy, 35 tuổi đời, một lần dang dở, đạo Phật, không hút thuốc lá, thích thức ăn Á châu, nói thạo tiếng Việt và Anh ngữ, biết sơ sơ tiếng Quan Thoại, học lực trung học. Thích shopping, du lịch, xi nê, nấu nướng và internet. Tóc đen, mắt nâu, thân hình loại vận động viên, cao khoảng 1m57 đến 1m69. Cindy đang sống ở Malaysia với con gái 15 tuổi, làm nghề uốn/hớt tóc. Đã ly dỵ, đẹp, dễ mến muốn tìm bạn trai dễ thương, thông minh, chín chắn tuổi từ 40 tới 49 để cùng du lịch, đi chơi, hợp sẽ tiến tới hôn nhơn.

Tìm mù mắt cũng không thấy hình ảnh “khuôn trăng đầy đặn” hay mấy chục người đẹp khác được giới thiệu ở ngoài. Hoá ra Life Partner Matchmaker Pte Ltd tính xí gạt mấy anh cô đơn người các đảo quốc vùng châu Á.

Bên ngoài, Life Partner Matchmaker (LPM) quảng cáo rùm beng, nào là “sáng lập ra phong trào cô dâu Việt Nam tại Singapore” hay thô bỉ hơn nữa “chuyên cung cấp cô dâu Việt Nam trinh trắng” và giới thiệu chương trình du lịch chọn vợ gồm 5 ngày/4 đêm, bao vé máy bay đi về, khách sạn, tiền xe, ăn uống cho “chú rể”. Dịch vụ này lo cả chi phí khám sức khỏe cho cả đôi, kể cả của hồi môn cho cha mẹ cô dâu. Không kém quan trọng, LPM sẽ trả luôn chi phí lấy “chứng chỉ còn trinh” và đừng quên trong chuyến đi tua này các “chú rể” có cơ hội tìm vợ trong cả 1,000 cô gái (trinh trắng) Việt Nam và chỉ phải trả trên 500 USD (888 SD), phần còn lại chỉ trả khi quyết định cưới.

LPM, ở những trang ngoài, còn đưa ra hình ảnh cô dâu Việt Nam xinh đẹp, tươi cười ôm hoa cưới như hình ảnh Đỗ thị Thuý Hằng mới lấy chồng Singapore tháng 7, 2005.

Trong số ra ngày 18 tháng 11 năm 2004, Simon Sim, Giám đốc Mayle Mariage Agency (MMA) cho The Sunday Times biết MMA tính giá mềm hơn những dịch vụ khác, trọn gói cưới vợ Việt Nam chỉ mất chưa đến 6,000 USD (9,888 SD). 90% trong số 67,000 đàn ông chưa vợ tuổi từ 35 đến 49 tại Singapore là người gốc Tầu. Sim cũng cho biết thêm, khách của MMA đa số là người lao động tuổi từ 40 đến 50; Peter Chua là một thí dụ, “Đàn bà Singapore ước vọng cao lắm, tôi chỉ mong gặp người đơn giản, dịu dàng, và không mơ ước cao sang.”

Mới đây, trên The Sunday Times, số ra ngày 27 tháng 11, 2005, Arti Mulchand tường thuật thảm trạng của cô dâu Việt Nam lấy chồng qua môi giới của năm dịch vụ hôn nhân tại Singapore.


Cô dâu Việt Nam

Một tháng trước đó Yến (không phải tên thật) sang Singapore tìm một tấm chồng và cuộc sống tốt đẹp hơn. Hôm nay Yến đã về lại Tây Ninh, tay trắng, ngoài số tiền tượng trưng do Vietnam Brides International Matchmaker (VBIM) bồi thường. Chồng 5 ngày của Yến, người thợ sửa giầy Fan Kiet Teng, 64 tuổi, đã bị kiện vì ký ngân phiếu 10,000 SD (5,907 USD) không tiền bảo chứng. Sau năm ngày dẫn đi khách sạn, Teng đem Yến trả về VBIM rồi trốn biệt. Tệ hơn nữa, Teng vẫn còn vợ chứ không phải goá bụa côi cút như lời khai.

Yến chỉ là một trong nhiều nạn nhân của những tổ chức gọi là dịch vụ môi giới hôn nhân, thực chất chỉ là bọn buôn người. Không một “dịch vụ môi giới” nào quan tâm đến cô dâu Việt Nam, mục đích đơn giản của họ lợi dụng hoàn cảnh để kiếm tiền nhanh. Không có gì bảo đảm đuợc thành ý hay khả năng gầy dựng gia đình của những người đi tìm cô dâu Việt Nam. Họ chỉ cần trả lời ba câu hỏi “Ông có vợ chưa? Ông đảm bảo đời sống cho vợ được chứ? Và ông có thể sống hòa thuận với cô ấy chứ?”

Mark Lin, Giám đốc VBIM, hay Janson Ong của LPM, hoặc Simon Sim của MMA cũng chẳng khác gì nhau; bọn họ dùng trực giác để đánh giá khách hàng/chú rể. Cùng lúc, không có gì bảo đảm cho các cô dâu Việt Nam. Họ sang Singapore với giấy phép thăm viếng người thân hiệu lực 14–30 ngày. Và ngay cả khi có giấy phép thăm viếng dài hạn, nếu cơm không lành, canh không ngọt hoặc không vừa lòng gia đình chồng, cô dâu Việt Nam chỉ con một đường duy nhất: quay về với cuộc sống nhục nhằn tại quê nhà. Với cô dâu và gia đình, các công ty môi giới này chẳng có giao kèo và cũng không khế ước, họ chỉ có lời hứa suông.

Braema Mathi, Chủ tịch Hội Phụ nữ Hành động và Nghiên cứu, một tổ chức bảo vệ nữ quyền, cho biết mỗi tháng hội này nhận ít nhất là 2 cuộc điện thoại từ các cô dâu nước ngoài, không hạnh phúc, đang bị đe dọa.

Singapore là một quốc gia văn minh, luật pháp gắt gao so với nhiều quốc gia khác, chống lại lạm dụng tình dục và cưỡng bức rất khắt khe cũng như án tử hình cho người trung chuyển, buôn bán ma tuý. Singapore sẽ làm gì, sẽ có luật pháp nào để tránh trở thành chợ buôn người?


Tòa nhà trinh nữ

Trở về đầu năm 2005, cũng trên The Straits Times, Chua Kong Ho viết một bài tựa đề “Vietnam's house of virgins”. Ở đây, house không phải là lâu đài tráng lệ hay cung điện nguy nga. Ho viết về một xưởng, một kho gái đồng trinh tại Việt Nam. Xưởng gái còn trinh này nằm ngay một khu công nghệ gần TP Hồ Chí Minh. Đây là tòa nhà một tầng, mái tôn, chứa khoảng 3,500 cô gái nguyên trinh, ngày ngày mướt mồ hôi, sót con mắt sản xuất giầy và áo polo hàng hiệu.


Trinh nữ làm giày
Chủ công ty này là một người ẩn dật, khoảng tuổi tứ tuần. Không những chỉ là một đại gia, ông chủ còn là một nhà chiến lược kinh doanh siêu phàm. Vừa là chủ công ty sản xuất giầy dép quần áo, “ngài” lại là cha đẻ của công ty dịch vụ môi giới hôn nhân “Mr Cupid International Matchmakers” (MCIM) tại Singapore. Ủa, chuyện giầy dép áo quần dính dáng, mắc mớ gì tới chuyện môi giới hôn nhân?

Dịch vụ môi giới hôn nhân nhan nhản khắp thế giới, MCIM có gì đáng để ý? Có chứ, đại gia ẩn dật đưa ra dự án dùng gái trinh nguyên sản xuất giầy dép, hàng hiệu trong khi chờ đợi khách nước ngoài vào chọn, đem đi làm vợ ở tận Singapore, Taiwan, South Korea, Malaysia hay những đảo quốc khác. Bọn tư bản với vertical integration của kinh tế thị trường chỉ đáng xách dép cho phương án kinh tế đa chiều của công ty gái–trinh–làm–giầy–dép–may–áo–đợi–lấy–chồng–xa–xứ này!

Khởi thủy, đại gia cho ma cô ma cạo về những vùng sâu vùng xa, nơi nông dân Việt Nam đang nghèo thắt họng, rủ rê con gái nhà quê, dẫn về thành phố mang tên Bác. Dĩ nhiên là với lời gạ gẫm, “Em em không những sẽ được lấy chồng nước ngoài, đời em sẽ sung sướng thong dong. Trong khi chờ đợi lên xe hoa, em còn có việc làm, có tiền nuôi ba má.” Nghe mà bắt ham.

Đó là thuở ban đầu. Bây giờ đại gia chỉ ngồi rung đùi, hóng gió – cha mẹ xóm riềng thi nhau dẫn con gái miệt vườn lên giao cho công ty liệu bề chăm sóc.

Những thôn nữ tuổi đôi mươi, dáng liễu hao gầy, từ ngã ba Lộ Tẻ hay ở miệt Năm Căn, như Huỳnh Thị Phương Thủy miệt mài suốt ca dài dằng dặc, lo trét keo, dán đế giầy Nikes và cặm cụi trên bàn máy, may áo Tommy với niềm tin đây là bước đầu chờ ngày leo lên võng vu quy.

Qua điện thoại trả lời Chua Kong Ho, Thủy nói “Em vô xưởng làm vì em muốn lấy chồng nước ngoài.”

Thủy đã toại nguyện, tháng 7, 2004, người thôn nữ 20 đã se duyên cùng chú rể Singapore, người gác kho 40 tuổi – năm anh 20, Thủy mới sinh ra đời. Thủy nói “Đời sống ở Singapore sung sướng hơn ở Việt Nam nhiều.” Cô nói như thiệt!

À, mà đâu phải ai cũng được như Thủy, ai công ty cũng nhận vào làm việc. Chính sách thu nhận nhân viên của đại gia rất gắt, tiêu chuẩn rất cao. Con gái miệt vườn đến công ty xin việc, đầu tiên phải vào phòng khám nghiệm để cai (hay má mì) coi qua da bụng đã giãn, nứt hay chưa, có dấu vết mổ ở bụng dưới hay không – nói trắng ra là má mì kiểm tra coi các cô gái đã có lần nào nở nhuỵ khai hoa. Cô nào giãn da bụng, có dấu caesarean thì đi về quê làm ruộng, nuôi tôm hay đi bán mía ghim, bán cà phê, bán bia tiếp.

Qua cái phần khám bụng đâu đã xong hả trời! Đại gia lại đưa thôn nữ sang khám “sức khoẻ”, chủ yếu chỉ để kiểm tra xem cái màng trinh con nguyên hay không. Các cô nào hồi nhỏ đi xe đạp thả dốc té, nhẩy dây, nhẩy cò cò dạng cẳng rộng quá cũng xem như không có số may quần áo, không có số dán đế giầy cho đại gia.

Tiêu chuẩn tuyển chọn nhân viên thế này chỉ có thể có trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tấm biển chỉ đường của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở các nước tư bản đang dẫy chết, không ai được hỏi mấy câu lơ mơ vào đời tư, không mắc mớ gì tới kỹ năng hay quá trình hành nghề, nói gì tới chuyện bắt con gái dạng háng, khám màng trinh.

Vào được công ty đâu phải đã yên thân. Công nhân phải chăm chỉ làm việc. Cái miệng bà tám, làm biếng, hay gây lộn sẽ bị má mì phạt không cho dự các cuộc chọn lựa khi có chú rể nước ngoài tới coi mắt. Tóm lại, không siêng làm, không lấy chồng – đơn giản thế thôi.

Martin Wong, Giám đốc Điều hành của MCIM tại Singapore ra điều nhân nghĩa, “Mấy cô này đi lấy chồng xa xứ nên cần được dậy dỗ, uốn nắn đàng hoàng, để nên người biết nghe lời. Chúng tôi chuẩn bị cho các cô ấy thích ứng với cuộc sống mới.”

Phương Thủy cũng đã được huấn luyện, uốn nắn, chuẩn bị cho cuộc sống mới. Trước khi theo chồng về xứ, Thủy đã làm việc 12 tiếng một ngày và thu nhập thường nhật tới gần 5 đô la Mỹ. Tính đổ đồng, Thủy làm công với giá gần 42 xu đỏ một giờ.

Tuy đổ mồ hôi, sót con mắt với đại gia nhưng đa số các cô gái quê nghèo đều thấy thoải mái hơn việc đồng áng, canh ruộng nuôi tôm – nhà thời không có điện, ăn ngày chỉ một bữa, tắm rửa thì phải chạy ra sông.

Thành tích cuả MCIM là đã tìm vợ cho 1,800 đàn ông đảo quốc quanh khu vực, 300 người trong số đó ở Singapore.

Tiến trình lấy chồng của thôn nữ tại “Vietnam's house of virgins” như sau: các cô gái đều được cho xem ảnh của chú rể nước ngoài rồi tuỳ ý đi dự cuộc tuyển lựa hay không đi. Sau khi đã vào cuộc tuyển chọn, phần quyết định thuộc về người đàn ông đảo quốc.

Một tiến trình bình thường? Không dám đâu, nhiều lúc nó tàn nhẫn ngoài sức tưởng tượng. Một lần đã có đến 2,200 thôn nữ đi xếp hàng cho một thương gia Taiwan chọn vợ.

Wong nói, “Ông không biết đó thôi, các cô ấy hy vọng tràn đầy. Hồi hộp chờ đợi ở ký túc xá, diện áo đẹp nhất để chỉ được 2 giây gây ấn tượng với ‘tình lang’ trước khi bị đẩy đi chỗ khác. Họ sinh ra ở một nước nghèo khó, đây là cơ hội duy nhất để họ thoát khỏi đói nghèo.”

Với nhiều cô gái nghèo Việt Nam, thời gian chờ đợi lấy chồng có thể rất dài. Trong 3,500 cô gái, hàng năm có khoảng 300 cô lấy được chồng.

Các cô gái xinh, dễ nhìn thường được chọn đi làm vợ trong khoảng sáu tháng làm việc và cũng có người đã dự 200 cuộc tuyển lựa và vẫn còn ngồi dán đế giầy.

Đa số các cô quay về thôn cũ làng xưa sau khoảng 2, 3 năm thất vọng. Một số khác vẫn cố gắng, nán lại, nuôi niềm hy vọng mong manh. Người trinh nữ lớn tuổi nhất vẫn còn miệt mài may áo, mong một ngày được lên võng vu quy. Cô thợ may còn con gái năm nay đà 35 tuổi.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã có đáp án cho vấn nạn cô dâu Việt Nam hay vẫn bận tíu tít chuẩn bị tranh giành quyền lực ở đại hội đảng và vẫn tiếp tục hô khẩu hiệu trí trá, phỉnh lừa,

“Đảng quang vinh, 75 năm sáng suốt soi đường, đưa đất nước đến bến bờ hạnh phúc”

Quang vinh, sáng suốt ở đâu? Bến bờ hạnh phúc ở nơi nào? Singapore, Hong Kong, Taipei, Seoul, Bandar Seri Begawan, hay Kuala Lumpur?

Cô dâu Việt nam hay là nô lệ tình dục? Lấy chồng xa xứ hay là làm đĩ quốc tế? Đảng CSVN đang đẩy xã hội, đất nước Việt Nam trở về thời người làm nô lệ. Ngay cả ở thời đại bị ngoại bang đô hộ, nhân phẩm con người và danh dự dân tộc cũng chưa bị ô uế, xúc phạm đến nhục nhã như bây giờ.

Nếu nhà nước CHXHCN Việt Nam vẫn thèm khát kiều hối, nếu các đảo quốc quanh vùng muốn giải quyết vấn nạn đàn ông không vợ thì trong kỳ trong hội nghị ASEAN lần tới hãy thẳng thắn bàn đến phương án di cư tự do, cho các nước láng giềng tha hồ chọn các thôn nữ Việt Nam khỏe mạnh, đôn hậu, thông minh sang làm công dân đảo quốc.

Nói thì nói thế thôi, dự án này có vấn đề cũng như đề nghị trưng cầu dân ý của Đỗ Nam Hải – “Việt Nam nên hay không nên theo thể chế chính trị đa đảng? Nếu ai đồng ý thì bầu Có. Ai không đồng ý thì bầu Không.”

Nếu có chính sách di cư tự do cho phụ nữ Việt Nam sang các đảo quốc quanh vùng có lẽ 41.5 triệu đồng bào sẽ nộp đơn xin di cư. Nhưng trong cái rủi lại có cái may, lúc ấy may ra nhà nước CHXHCN Việt Nam mới thấy ảnh hưởng sâu sắc của nạn trai thừa gái thiếu.

Vinh danh thiên Chúa trên trời
Tự do Dân chủ cho người Việt Nam


Mùa Giáng sinh 2005

Copyright © 2005 DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 26/12/2005)



Ghi thêm:
1. Một vài nét về MCIM: Đại gia thành lập công ty may quần áo và giầy dép vào năm 1990. Nhờ tiêu chuẩn kiểm phẩm gắt gao, trở nên thành công, nổi tiếng trong giới may mặc giầy dép hàng hiệu. Thành công, công ty sản xuất này đã nuôi ăn và cho công nhân ở tại ký túc xá. Ba năm sau, 1993, đại gia đẻ ra MCIM phục vụ đàn ông Taiwan, Singapore, Malaysia và South Korea độc thân tìm vợ. MCIM, giới thiệu, “Cô dâu Việt Nam là những thôn nữ được dậy bảo, ngoan ngoãn, với nét đẹp tự nhiên, tính tình đôn hậu, tử tế, được dậy phải yêu kính, vâng lời chồng, và hiểu thảo với cha mẹ và gia đình nhà chồng.”
Lời nhắn riêng với các anh Huỳnh Việt Lang, Đông Dương, Lê Nhân: Xin các anh bỏ chút thì giờ đi kiếm đại gia giùm. Martin Wong đã khôn khéo không khai báo địa chỉ của Vietnam’s House Of Virgins nằm ở đâu, trong khu nào của ngoại ô Sài Gòn cũng không khai báo tên của đại gia.

2. Theo tin BBC ngày 25 tháng 4, 2005, từ Lima, thủ đô Peru, Graciela Yataco (hay Gracia) đăng báo rao bán tiết trinh. Gracia 18 tuổi, đi làm giúp mẹ nuôi em từ lúc tuổi 15. Mẹ Gracia, nay 43 tuổi, bệnh liệt giường. Guillermo, 12 tuổi, em Gracia, vẫn còn đi học.
Gracia làm người mẫu, thu nhập, thua cả Phương Thủy, 60 USD/tháng. Không muốn thấy em phải bỏ học, và 60$ hàng tháng không đủ trang trải chi dùng, tháng 3, 2005, Gracia tuyệt vọng, đăng báo, đài và internet rao bán tiết trinh cho người trả giá cao nhất.
Khi một người Canada đề nghị trả giá tiết trinh của Garcia bằng 1.5 triệu USD. Gracia đã từ chối. Người đàn ông Canada rất đỗi vui mừng khi cô gái Peru trả lời “Không.”



Đạp đổ Hoả Bích Trường Thành Trung Quốc


Trà Mi
(Theo Lisa Vaas, “Toppling the Great Firewall of China”)


Trung Quốc không đặt tường lửa trên những cầu dẫn (routers) cho công an mạng chận đường đến những trang nhà ngoài lục địa có nội dung nhạy cảm.

Thay vào đó, chế độ cộng sản độc tài này dựa vào một hệ thống kiểm duyệt tinh vi hơn nhiều, dùng các từ khoá nằm trong sổ đen và cầu dẫn đi sâu vào luồng thông tin trên mạng sục sạo, mò tìm những từ hay nhóm chữ khoá nhà nước xem là cấm kị.

Assistan Prof. Jedidiah R. Crandall
Nguồn: cs.unm.edu

Jed Crandall, một nhà giáo dạy khoa Khoa học Điện toán ở trường Kỹ sư thuộc Đại học New Mexico cho biết, “Theo hiểu biết thông thường thì đây là một bức tường lửa – vây quanh biên giới Trung Quốc. Chúng tôi thấy, đôi khi chỉ bị chận lại sau vài bước (có khi lên đến 13 bước) nhảy cầu trong mạng internet ở đây.”

Trên thực tế, cái “Hoả bích trường thành” TQ (壁 火 長 城 中 國) hay bức tường lửa khổng lồ của Trung Quốc mà những nhà nghiên cứu tin rằng nhà nước độc tài Trung Quốc dùng để ngăn cản dân chúng truy cập những trang nhà có thông tin chướng tai gai mắt (nhà nước) chỉ là, một nhà tù “panopticon” – một loại nhà giam mà tù nhân không thể biết được là mình có đang bị theo dõi hay không (Tác phẩm của triết gia Anh Jeremy Bentham vào cuối thế kỷ 18).

Một toán nghiên cứu gồm cả những nhà khoa học của Đại học California ở Davis, đã tìm thấy rằng không phải bất kỳ từ khoá nhạy cảm nào cũng bị ngăn cản trong luồng thông tin internet – nhà nước chỉ kiểm duyệt vừa đủ để người dùng mạng phải e dè và tự kiểm duyệt chính mình vì biết những hoạt động trên mạng đang bị nhà nước theo dõi.

Đúng như vậy, khoảng 28% trang mạng của Trung Quốc mà những người nghiên cứu gởi tín hiệu thăm dò hoàn toàn không dùng lưới lọc, điều này bác bỏ việc cho rằng bức đại tường lửa Trung Quốc chỉ lọc từ khoá ở cầu dẫn ven biên.

Mẹo vượt đại tường lửa có dạng phức tạp hơn vì người dùng internet ở Trung Quốc bị lừa và nghĩ rằng lúc nào cũng đang bị công an theo dõi và lúc nào cũng bị chận đường trên xa lộ thông tin. Những nhà khảo cứu tin học vì thế đã đề xuất một cấu trúc để đi vòng hệ thống tường lửa lọc từ khoá mà không cần đến những mẹo trèo tường lửa thông thường.

Cấu trúc của ConceptDoppler
Nguồn: “ConceptDoppler: A Weather Tracker for Internet Censorship”, Jedidiah R. Crandall et al.
Họ đang phát triển một dụng cụ mới, mang tên là “ConceptDoppler” (1), đi xuyên mạng bằng một ngả đường ít ai ngờ: “spam” hoá những từ khoá nằm trong sổ bìa đen của công an mạng Trung Quốc. Trước nhất, họ phải tìm những từ khoá nhạy cảm là gì (bằng cánh điều chỉnh những gói thông tin nhỏ – modulating packets), kế đến thẩm định cần bao nhiêu bước nhảy để vào đến mạng của Trung Quốc, thứ ba, xác định cầu dẫn nào đang làm nhiệm vụ tung lưới lọc những từ khoá nhạy cảm. Những cầu dẫn này, trên thực tế, gởi tín hiệu ngăn chận không cho người dùng internet hạ tải (download) thông tin cấm kỵ.

Các nhà nghiên cứu cho biết “ConceptDoppler” làm việc tương tự như một bản báo cáo thời tiết về những thay đổi về tình hình kiểm duyệt trên mạng internet Trung Quốc và các nơi khác. Dụng cụ “ConceptDoppler” dùng thuật toán xếp nhóm từ theo nghĩa và xác định những từ khoá có khả năng nằm ở sổ bìa đen của Trung Quốc. Toán khảo cứu hiện đã tìm được 122 từ khoá, nhưng cho biết sổ bìa đen có thể có đến hàng ngàn từ hay nhóm từ cấm kỵ.

Tuy nhiên, ngoài bản đồ hình kiểm duyệt toàn cầu, nhóm nghiên cứu còn dự tính biến dụng cụ “ConceptDoppler” thành đồ nghề “spam” hoá các từ khoá bị cấm kỵ – họ cũng dùng kỹ thuật spamming thông thường, bẻ từ, thêm mẫu tự bất định vào từ, v.v...

Earl Barr, một sinh viên hậu đại học, khoa Khoa học Điện toán, Đại học Califonia ở Davis, đồng tác giả của bài nghiên cứu “ConceptDoppler: A Weather Tracker for Internet Censorship” nói, “Chúng tôi học từ ‘spammers’” (những người gởi thư hàng loạt đến nạn nhân không quen biết).

“Chúng tôi đi tìm xem đâu là chương trình “spam” tinh vi nhất trên mạng – thí dụ, một phần mềm quái ác của Hungary, và sử dụng nó luôn,” Barr nói thêm.

Trong kịch bản đó, một số bộ phận của trang web sẽ gởi tín hiệu báo là đã nối kết được với mạng trong Trung Quốc. Webmasters biết nội dung trang nhà có nhiều từ khoá nhạy cảm và bị cấm tại Trung Quốc sẽ dùng đồ nghề để “spamming” từ khoá, thoát mạng lưới lọc và đưa thông tin vào đến người dùng internet ở Trung Quốc.

Dĩ nhiên, nhiều từ khoá nhạy cảm đã vào sổ đen của công an mạng Trung Quốc dễ hiểu và đễ đoán được như: “Tibetan Independence Movement, Phong trào Tây Tạng Độc Lập,” “Falun Gong, Phá Luân Công,” “The right to strike, Quyền Đình công,” “Tiananmen Square Hunger Strike Group, Nhóm Tuyệt thực ở Thiên An Môn,” hay “Voice of America, Đài tiếng nói Hoa Kỳ.”

Một số từ bị cấm ít ai ngờ được, thí dụ như, “Mein Kampf”, “International geological scientific federation” hay “conversion rate”. Lý do? dịch sang Hoa ngữ, nhóm từ này có thể là “tốc độ chuyển đổi”, đã làm bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc không yên tâm lắm. Trong vài trường hợp, ngay cả những từ chuyển dịch hao hao những từ khoá nhạy cảm cũng bị lọc ra ngoài.

Thí dụ, một bài trong từ điển Bách Khoa Mạng (Wikipedia) về một quốc gia ở Tây Đức, khi chuyển dịch sang Hoa ngữ, dùng một số từ hao hao giống như “Phá Luân Công”. Thí dụ như Münster, Westfalun: Tây Phá Luân.

Còn nhiều từ khoá bị cấm khác thì Crandall và nhóm nghiên cứu chỉ có thể suy đoán.

Ludovico Ariosto có nghĩa là gì đến nỗi đựơc vào sổ đen của Đảng CS Trung Quốc? Và Helmuth Karl Bernhard von Moltke, nhà chiến lược tài danh của Đức ở hậu bán thế kỷ 19 thì ăn nhậu gì tời bác “Hồ” Jintao và đồng đảng? Á à, không chừng công an mạng Trung Quốc lại nghĩ tới một Moltke khác, Helmuth James von Moltke, thẩm phán người Đức, sáng lập tổ chức “Vòng Kháng chiến Kreisau” chống lại Hitler và Đức Quốc Xã. Dân Trung Quốc hiểu biết nhiều về ông kháng chiến quân Moltke này thêm là điều không nên và không tốt; Cứ lọc tất, Helmuth Karl hay Helmuth James cũng mắm sốt. Bắn lầm còn hơn bỏ sót.

Người viết rất tò mò muốn tìm hiểu xem đội ngũ công an mạng Trung Quốc hay bắn lầm tới cỡ nào. Có lẽ không phải do tình cờ hay duyên số, trên mạng Internet có một trang nhà tên “greatfirewallofchina.org”. Tại đây, mọi người có thể thử nghiệm xem bất kỳ trang web nào trên thế giới có bị ngăn chận hay được cho vào Trung Quốc. “Đàn Chim Việt Online edition”, nhóm chữ tự nó rất rất vô tư dù là tiếng Anh hay tiếng Việt và đặc biệt nó không phải là tiếng Tàu. Sau khi chép và dán địa chỉ “http://www.danchimviet.com/php/index.php” vào khung thử nghiệm, bấm chuột vào nút “go” và đây là kết quả “real-time”:

Your URL is Blocked!

Trung Quốc chận Đàn Chim Việt
Nguồn: greatfirewallofchina.org

Thông tin của trang greatfirewallofchina.org cho hay thử nghiệm này đã chuyển yêu cầu đọc Đàn Chim Việt từ máy chủ của greatfirewallofchina.org đến một máy chủ khác nằm trong nội địa Trung Quốc và gởi kết quả về lại greatfirewallofchina.org (We’ve opened a website in China and route your url request on greatfirewallofchina.org through to our server in China. The server in China opens the url and the result is send back.)

Ơ hay, có ông bà nào trong ban biên tập Đàn Chim Việt là thành viên Phá Luân Công hay thuộc phe của Zhao Ziyang (Triệu Tử Dương) chăng? Mấy phần ngàn dân Trung Quốc biết đọc và hiểu tiếng Việt mà bác “Hồ” Jintao phải bận tâm lại chơi trò ma quỷ với DCVOnline? Trong 122 từ khoá trong báo cáo “ConceptDoppler” có epochtimes.com đã đành; danchimviet.com nào phải epochtimes.com hay dính dáng gì tới sự kiện “Thiên An Môn” hay có nghĩa phản động như “Conversion rate” hoặc chiếu “Erotic movies” hồi nào đâu?

À, một chuyện đáng để ý, trong 122 chữ “phạm huý” mà Crandall và đồng nghiệp tìm được có nhóm từ “The Communist Party of Vietnam”. Đảng Cộng sản Việt Nam là cụm từ nhạy cảm thì việc gì lại đi “ban” DCVOnline. Chẳng lẽ Bác “Hồ” Jintao cũng như vài bạn đọc Đàn Chim Việt nghi hay nghĩ Đàn Chim Việt là của “Đảng Cộng sản Việt Nam Quang Vinh muôn năm” luôn sao trời?

Thế này là thế nào nhỉ? Người viết xin các bạn đọc Hán rộng thâm sâu (Bác Tâm Việt chẳng hạn) làm ơn dịch Đàn Chim Việt sang tiếng Tàu coi nó là cái giống (chim) gì để ra nông nỗi này cơ chứ!

Thực ra đã có tin vài tổ chức đảng phái hải ngoại đã rất muốn Đàn Chim Việt là báo của “đảng” mình. Bạo hơn nữa có tổ chức chính trị còn tuỳ tiện nhét cả tên biên tập viên và dán Đàn Chim Việt vào danh sách thành viên; Khi được yêu cầu chỉnh sửa thì họ đánh bài lờ (cho đến nay). Và theo một nguồn tin thất thiệt khác thì “Báo _ _ đã mua Đàn Chim Việt rồi”.

Đúng là một đám nhận vơ xàm gở, đồn thổi trí trá, bất lương!

Crandall nói thêm, “Một người bạn của tôi ở Trung Quốc cho biết nhà nước không những chỉ lọc những thông tin “có hại” cho chính phủ mà còn ngăn cả thông tin “không tốt”. Và lý cớ này đã đủ để ngăn tất cả các trang web nói về lịch sử Chiến tranh Thế giới lần thứ nhì.”

Không phải chỉ có Trung Quốc đặt rào cản trên xa lộ thông tin. Canada và Anh Quốc cũng ngăn chận thông tin, nhưng là những trang khiêu dâm trẻ em (child pornography), và Đức lọc thông tin liên hệ tới Quốc xã (Nazi).

Tuy nhiên, chỉ có trung Quốc mới dùng hệ thống lưới lọc ở mức độ tinh vi cỡ này để trù dập quyền tự do thông tin và được thông tin. Theo Crandall, Iran cũng lọc từ khoá nhưng ở mực đơn giản hơn (dùng lưới lọc Web Proxy) trong khi Trung Quốc cho cầu dẫn đi sâu vào từng trang tìm từ khoá nhạy cả và chận nội dung của trang đó thay vì ngăn chận cả web site. Còn ứng xử thô bạo hơn thì Trung Quốc chận cả website; trang nào có từ “massacre – thảm sát” chẳng hạn là kể như xong – sẽ bị chận, đứng ngoài mạng Trung Quốc.

Cách lọc từ khoá của Trung Quốc đôi khi đưa đến chuyện chận lầm, dưới nhãn quan của người kiểm duyệt, nhưng lại là một giải pháp thanh nhã. Vấn đề với kỹ thuật chận hẳn IP của các trang “nhạy cảm” không hiệu quả lắm vì người ta có thể đưa cả trang “nhạy cảm” đó nằm ở một IP khác (mirroring technique).

Dù lưới lọc dùng Web Proxy có thể chận được cách luồn lách (bằng mirror) này nhưng có nhược điểm ở phạm trù phóng đại. Proxy bắt buộc công an mạng phải duyệt xét tất cả thông tin toàn cầu tại máy chủ ở Trung Quốc; Giải pháp này rất tốn kém, thu hút tài nguyên nhiều và có thể gây ra điểm đổ vỡ trên mạng. Barr cho hay, “Muốn thiết kế một hệ thống (kiểm duyệt kiểu này) có đủ tầm cỡ để hoạt động hiệu quả thì rất tốn kém.”

Tóm lại, kỹ thuật lọc bằng proxy không hiệu quả. Phương pháp lọc từ khoá của “Hoả bích trường thành” thanh lịch và hiệu quả hơn. Và với những người khảo cứu khoa học đây là một điểm lý thú vì họ tìm biết được những thông tin loại nào thì bị Trung Quốc ngăn cản. Một cách khác, bức đại tường lửa Trung Quốc cho người nghiên cứu biết hoạt động của công an mạng ở cầu dẫn dựa trên thông tin gởi trả từ những trạm gác (cầu dẫn này), và người ta có thể theo dõi những hoạt động “công an” này từ bên ngoài Trung Quốc.

Crandall cho biết “Từ bên ngoài Trung Quốc, chúng tôi có khả năng xác định nhảy mấy bước vào Trung Quốc sẽ bị chận và bị ngăn lại ở cầu dẫn nào – vị trí cầu dẫn quăng lưới lọc tại Trung Quốc. Thứ đến, chúng tôi có thể thử nghiệm tìm xem những từ bị cấm hay “nhạy cảm” với chính quyền Trung Quốc và khẳng định được khi nào đã bị ngăn cản.”

Nhóm nghiên cứu ở Đại học New Mexico và Đại học California ở Davis dự định sẽ dùng đồ hình internet để đo lường chính xác hơn Trung Quốc đặt lưới lọc ở nơi nào và dùng các cơ sở nguồn khác – ngoài Đại học California ở Davis – để sàng lọc kết quả kỹ lưỡng hơn nữa. Trung Quốc ngày nay có thể đã dùng thêm những kỹ thuật mới như “chui đường hầm” IP. Với đồ hình internet tốt hơn, các nhà nghiên cứu này sẽ có nhiều cơ hội để xác định hoạt động của công an mạng ở Trung Quốc.

Hiện này, chỉ dùng cơ sở duy nhất ở Đại học California ở Davis, nhóm nghiên cứu cố xác định xem máy chận nằm ở nơi nào. Điều đã biết là, chính công ty dịch vụ Internet lớn nhất Trung Quốc, ChinaNET, là chủ xị của 83,3% những hoạt động quăng lưới ngăn chận thông tin. Những nhà nghiên cứu cũng đã biết, 99,1% sàng lọc thông tin ở Trung Quốc xảy ra chỉ 1 bước sau khi qua “biên giới”, 11,8% tín hiệu thăm dò của nhóm nghiên cứu bị chận lại ở bước nhảy thứ 3, và đôi khi đến bước thứ 13 sau “biên giới” họ mới tìm gặp một cầu dẫn quăng lưới lọc thông tin.

Và họ cũng biết những quốc gia khác đang kiểm duyệt thông tin mạng đang bắt chước chép bài kiểm duyệt của Trung Quốc.

Người cộng sản đã từng hô hoán “Nơi nào có đàn áp, nơi đó có đấu tranh!”. Ngày nay cũng không khác.

Ngày nào còn độc tài chuyên chế, còn đàn áp tự do ngôn luận, còn chà đạp tự do thông tin thì ngày ấy còn những phát minh khoa học chống trả mãnh liệt. Cuối năm 2006, Ronald Deibert và nhóm nghiên cứu ở Citizen Lab, Đại học Toronto đã phát minh ra psiphon “để xé rào cản, xuyên thủng tường lửa chận thông tin của các nhà nước độc tài với hy vọng sẽ đem lại lý tưởng ban đầu của internet: tự do truy cập mạng và tự do truyền thông.” (Trích Vũ Khí giành lại tự do ngôn luận, Trần Giao Thủy, DCVOnline, 05/12/2006).

Năm nay, nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Mexico và Califonia ở Davis sẽ phúc trình báo cáo khoa học về ConceptDoppler tại Hội nghị của Hiệp hội Máy điện tính về Máy điện toán và An toàn Truyền thông vào cuối tháng 10 tại Alexandria, VA, Hoa Kỳ. Điều chắc chắn, những người làm khoa học phục vụ cho lý tưởng tự do dân chủ chưa ngừng. Sau Ronald Deibert với psiphon, Jed Crandall với ConceptDoppler sẽ còn nhiều người khác tiếp nối sự nghiệp khoa học phục vụ dân sinh, dân chủ, dân quyền.

Như các ông làm nghiên cứu máy điện toán đã nói “những quốc gia khác đang kiểm duyệt thông tin mạng đang bắt chước chép bài kiểm duyệt của Trung Quốc”, chắc chắn nhà nước và “đảng cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm” (bạn đọc có thể xem nhóm từ này là lựu đạn khói giúp luồn vào trong nước) đang đứng hàng đầu các nước đi “cọp dê” Trung Quốc.

Và đến đây người viết lại chợt nhớ đến Đàn Chim Việt.

Nếu như công an mạng ở Hà Nội, ở Tp. Hồ Chí Minh đã học nhuần nhuyễn bài “lọc từ khoá” của bác “Hồ” ... Jintao thì những bài chủ hay ý kiến trên diễn đàn DCVOnline mang theo các nhóm chữ như “đi cửa sau”, “dân chủ, tự do, nhân quyền”, “xã hội độc tài toàn trị”, ... e khó vượt qua biên giới về tới Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ. Đó là chưa kể đến những nhóm chữ đã bớt xuất hiện trên Đàn Chim Việt như “Hồ cẩu tặc”, “lá cờ máu”, v.v...

Tương tự những loại bài dù là truyện ngắn, dù là hư cấu như Sụp đổ sau 8 tiếng (Phạm Trung Kiên, DCVOnline, 15/09/2007) kể chuyện uống thuốc tàng hình rồi cướp công xa, chở plastic giật sập lăng “Bác” cũng sẽ cùng chung số phận “đứng ngoài biên giới” và chỉ là những bài để người Việt hải ngoại đọc chơi.

Lại nếu như công an mạng không dùng phương pháp thô bạo xếp danchimviet.com vào danh sách “phản động lưu vong cần phải tường lửa chặt chẽ” mà chỉ dùng công nghệ “lọc từ khoá”, muốn vào được vào trong nước bài viết phải đúng “chuẩn mực” Hà Nội như ông Vương Văn Quang đã nhắc khéo. Cứ “đéo”, cứ “địt” vô tư từ câu đầu đến câu cuối thì chắc như bắp là bài sẽ đến mắt ông Lê Doãn Hợp.

Ông Hợp dù là đảng viên cộng sản gốc ở Nghệ An nhưng chuẩn mực cộng sản độc tài Hà N(L)ội của ông Bộ trưởng đã sáng ngời qua đề xuất “cắm” Tổng biên tập vào từng tờ báo và báo chí Việt Nam trong nước phải đi vào “lề bên phải”.



© DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 19/09/2007)




Nguồn: Toppling the Great Firewall of China, Lisa Vaas, eWEEK, September 12, 2007.

(1) Jedidiah R. Crandall (ĐH New Mexico), Daniel Zinn, Michael Byrd, và Earl Barr (ĐH California ở Davis) cùng nhà nghiên cứu độc lập Rich East là đồng tác giả của bài báo cáo khoa học “ConceptDoppler: A Weather Tracker for Internet Censorship”. Tác giả sẽ báo cáo tại hội nghị 14th AMC Conference on Computer and Communications Security, Oct. 29-Nov. 2, 2007.


Nói lăng nhăng... là một lũ phản quốc


Chỉ có một điều tôi biết chắc rằng, ngay cả những người theo làn gió chướng đổi chiều, đã về Việt Nam. Họ cũng cảm thấy họ chẳng sung sướng gì, đôi khi tỏ ra buồn phiền, nghi kỵ, thất vọng không muốn nói ra. Đó là trường hợp ông Nguyễn Cao Kỳ.

(Trích “Gió chướng đã đổi chiều”, Nguyễn Văn Lục, DCVOnline 14/07/2007)

Newsweek số 27/09/1965
Nguồn: Newsweek
Không rõ ông Nguyễn Cao Kỳ đã nói gì với tác giả để trong bài “Gió chướng đã đổi chiều” Nguyễn Văn Lục đã đi đến kết luận là ông tướng cựu Tư lệnh không quân VNCH, cựu Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương (Thủ tướng chính phủ quân nhân 1965-1967), cựu phó Tổng thống VNCH (1967-1971) chẳng sung sướng gì, đôi khi tỏ ra buồn phiền, nghi kỵ và thất vọng không muốn nói ra sau khi đã theo làn gió chướng, đổi chiều.

Nguyễn Cao Kỳ, từ những ngày ông còn đi lính, hay đang làm Thủ tướng hoặc phó Tổng thống và ngay cả những ngày cuối cùng của nền đệ nhị Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam, chưa khi nào chứng tỏ là người có tính ngại ngùng, không muốn nói ra.

Đối với quần chúng, chính Nguyễn Cao Kỳ đã xác định, trách nhiệm của ông là đóng vai như “một quân nhân, một chính trị gia, và một tài tử (nguyên văn “military man, a politician, and a movie star.” – PREMIER KY: Who Rules Vietnam? Newsweek, Số 27 tháng 9, 1965, trang 32.)

Đã được xem là “tay chơi” vang tiếng một thời ở các vũ trường, phòng trà Sài Gòn đọc những vần thơ lê thê, ướt át, cùng lúc đeo súng lục khắc tên người tinh mới nhất trên bá ngà, ông Nguyễn Cao Kỳ khó có thể là loại người “không muốn nói ra”.

Ngay cả lúc những phi vụ thả biệt kích ra Bắc còn trong vòng bí mật, tháng 7, 1964, ông Nguyễn Cao Kỳ đã tuyên bố với ký giả là ông đã vài lần bay vượt vĩ tuyến 17 (trong hai năm 1960-62). Stanley Karnow xem đây là một tiết lộ đã làm Hoa Kỳ phải xấu hổ vì ở thời điểm ấy ngôn ngữ tuyên truyền của Mỹ vẫn cho cộng sản Bắc Việt là phe duy nhất vi phạm hiệp định Geneva (Vietnam: A History, Stanley Karnow, trang 364).

Nguồn: vnaf.net
Khả năng phát ngôn và tuyên bố giựt gân của Nguyễn Cao Kỳ phát triển khá sớm. Năm 1964, khi 34 tuổi, ông tuyên bố “Chúng ta cần đến bốn hay năm Hitler tại Việt Nam.” Tháng 7, 1965 khi tờ New York Post cho đăng lại lời tuyên bố vừa kể thì ông đổi chiều, cải chính gỡ gạc và sau đó trong cuốn Twenty Years and Twenty Days (1976) cho rằng ông chưa bao giờ xem Hitler là thần tượng. (1)


Một tuyên bố khác của ông Nguyễn Cao Kỳ vào những ngày cuối tháng 4, 1975 tại Sài Gòn đại ý cho những người bỏ chạy là đồ hèn nhát và Kỳ sẽ ở lại chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Nhưng đó chỉ là tuyên bố. Ngày 29 tháng 4, 1975, khoảng sau sáu giờ chiều, trực thăng do Nguyễn Cao Kỳ lái đã đáp trên chiến hạm U.S.S. Midway ngoài biển đông trên đường chạy sang Mỹ trong chiến dịch Frequent Wind (White Christmas, The Fall Of Saigon, A Photographer's Diary: April 20-30, 1975, Dirck Halstead và Thư riêng của William A. Bloomer, Thiếu tướng (hồi hưu) Thuỷ quân lục chiến Hoa Kỳ, gởi Max Krause thuộc thư khố Đại học Emporia State University, 13/03/2003).

Thiếu úy Ken Prater (sĩ quan vận chuyển của USS Midway), Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Tướng Ngô Quang Trưởng trên chiến hạm U.S.S. Midway (29/04/1975)

Nguồn: midwaysailor.com/Ảnh Hải quân Hoa Kỳ
Trên đây chỉ là một vài thí dụ về những tuyên bố của ông Nguyễn Cao Kỳ ngày xưa, hơn 30 năm về trước. Những tuyên bố đó chứng tỏ ông Kỳ không phải loại người “không muốn nói ra” như tác giả Nguyễn Văn Lục nhận xét.


Đó là chuyện ngày xưa. Gần với hiện tại hơn, ngày 13 tháng 6, 2002, trong một bài nói chuyện (2) tại De Anza College ở California, ông Kỳ đã nói và nói rất nhiều. Với bài nói chuyện dài hơn 4000 chữ, một mặt Nguyễn Cao Kỳ quảng cáo cho cuốn Buddha's Child: My Fight to Save Vietnam (St. Martin's Press, 2002), mặt khác ông chuẩn bị cho chuyến bay “theo chiều gió” hai năm sau.

Chuyện ông nói cũng không có gì lạ, vẫn rất “Nguyễn Cao Kỳ”. Cơ bản ông Kỳ cho rằng nếu Mỹ nghe ông và nếu ông không “nhường” quyền lãnh đạo cho ông Nguyễn Văn Thiệu (năm 1967) thì miền Nam đã không thua trận.

Ông Kỳ nói rằng ông đã đề nghị tấn công miền bắc (chỉ có một sư đoàn chính quy phòng thủ) và chỉ cần Mỹ yểm trợ không lực và quân Mỹ sẽ bảo vệ các trung tâm dân sự (I offered to lead a South Vietnamese attack on North Vietnam, which was defended by a single division of regular troops. All I required from the U.S. was air support, and that U.S. troops already in my country would defend population centers.)

Mỹ đã không nghe ông, tiếp tục theo đuổi chiến lược chiến tranh tự vệ để cuối cùng phải bại trận, Nguyễn Cao Kỳ nói tiếp.

Một lý do khác khiến miền Nam thất thủ, theo Nguyễn Cao Kỳ, chính vì quan hệ do thai nghén bất bình thường, không bình đẳng, mang tính chủ tớ giữa Mỹ và Việt Nam.

Như thế, cốt lõi của vấn đề không phải lỗi của Nguyễn Cao Kỳ chính là nền tảng cơ bản để viết thành cuốn Buddha's Child. Ông Kỳ viết cuốn tự truyện để thanh toán nợ nần với kẻ thù hay những người đã cùng ông dính líu tới cuộc chiến. Tuy thế, Nguyễn Cao Kỳ chỉ xuất bản sách thanh toán nợ trần khi Richard Nixon, Lyndon Johnson, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu và Dương Văn Minh đã ra người thiên cổ. Cuốn tự truyện của ông kể lại chiến tranh Việt Nam dựa trên những luận điệu và trí nhớ khó có thể kiểm chứng được. Truyện chiến tranh Việt Nam của Nguyễn Cao Kỳ kể thuộc loại sử “có-thể-suýt-nữa-là” (woulda-coulda-shoulda version of war history) theo nhận định của Peter Ross Range – Trưởng phòng sau cùng của tạp chí Time tại Sài Gòn năm 1974-1975 – khi đọc Buddha's Child cho độc giả Washington Post (04/08/2002).

Một ý chính khác trong bài nói chuyện ở De Anza College, ông Nguyễn Cao Kỳ, chuẩn bị thành “Việt Kiều yêu nước”, đã hùng hồn khẳng định:

– Chủ nghĩa cộng sản đã chết tiệt ở Việt Nam.
– Việt Nam bây giờ là Việt Nam kinh tế thị trường.
– Lãnh đạo trẻ ở Việt nam bây giờ muốn bắt chước Nam Hàn, Đài Loan, Singapore để Việt Nam trở thành rồng châu Á.

Ngon hơn nữa, Nguyễn Cao Kỳ rao giảng thuyết kinh tế mở mang, xã hội phát triển (vì ôm chầm lấy tư bản) thì chẳng mấy chốc nền dân chủ pháp trị sẽ chạy ù vào Việt Nam (“Once Vietnam embraces capitalism, democracy and the rule of law will follow.”)

Có lẽ ông Kỳ nên gọi giây nói bàn thêm chút xíu nữa về Phát triển và Dân chủ với Ôn Gia Bảo. Ông nên hỏi xem bao lâu sau ôm tư bản phát triển Việt nam sẽ trở thành quốc gia dân chủ. Thủ tướng nước cộng sản toàn trị “tiên tiến đã nói Trung Quốc cần đến cả 100 năm nữa thì chủ nghĩa xã hội, socialism, mới có thể trở thành dân chủ xã hội, socialist democracy (Wen Jiabao trả lời phỏng vấn của nhật báo Nhân Dân và câu hỏi thêm của ký giả báo Le Monde trong cuộc họp báo ngày 17 tháng 3, 2007).

Một lần nữa, những điều trên đây chứng tỏ rõ ràng ông Nguyễn Cao Kỳ không thể là loại người “thất vọng không muốn nói ra”.

Tuy nhiên, nói và viết về ông Nguyễn Cao Kỳ sẽ tốn rất nhiều giấy mực, không gian, mặt bằng của mọi người.

Đến đây xin mời tất cả bạn đọc, và đặc biệt mời tác giả bài “Gió chướng đã đổi chiều”, theo dõi tuyên bố mới nhất của Nguyễn Cao Kỳ tại Dana Point nhân dịp người “lãnh đạo trẻ” của đảng cộng sản Việt Nam, Nguyễn Minh Triết, chiêu đãi “Việt kiều yêu nước”, “Việt kiều làm ăn” tại California hôm 23 tháng 6, 2007.


Phát biểu của Việt kiều Nguyễn Cao Kỳ (23/06/2007 Dana Point, CA)

Lịch sử Việt Nam đâu phải chỉ có 1 lần có cuộc nội chiến chia đôi Nam Bắc. Nhiều rồi, Trịnh Nguyễn phân tranh. Cuối cùng là cái gì? Đất nước phải thống nhất. Tôi, tôi đã nói nhiều lần: Tôi muốn thống nhất đất nước mà tôi không làm được. Người anh em phía bên kia làm được. Chúng ta bây giờ ngả mũ chào (giơ tay chào) và chấp nhận. Đất nước phải thống nhất. Giản dị thôi. Tôi ít học lắm, mà tôi không phải là chính trị gia. Nói lăng nhăng (gằn giọng) mà không giúp được đất nước thống nhất giàu và mạnh là một lũ phản quốc. Thế thôi (nhún vai). Ngày hôm nay tôi nghe một người nói, không đọc sách, không đọc vở, như tôi nói, không giáo điều là tôi mến rồi. Nhất là nói chuyện anh em đồng bào và đất nước.

Đấy! Làm gì có chuyện “thất vọng không muốn nói ra”. Trái lại, đây là một lời tuyên bố rất “Nguyễn Cao Kỳ”.

Nghe để biết, đọc mà chơi thôi. Việt kiều Nguyễn Cao Kỳ chỉ là một trong hàng ngàn người đang làm ăn vì lợi nhuận với nhà nước cộng sản Việt Nam. Việt kiều Nguyễn Cao Kỳ cũng chỉ là một trong hàng trăm ngàn người du lịch Việt Nam hàng năm hay là một số các cụ già đang về Việt Nam nghỉ hưu. Kỳ có nói gì cũng với tư cách đó, cá nhân của Nguyễn Cao Kỳ.

Ở xã hội dân chủ văn minh, ông Kỳ được quyền tự do tư tưởng và ngôn luận như mọi người, không hơn và không kém. Tuy nhiên trong lời phát biểu ngắn trên đây ông Kỳ coi bộ hơi “Nguyễn Cao Kỳ” quá đấy. Ông cứ tự nhiên, cứ hồ hởi tung hô, cứ ngả mũ chào và chấp nhận đảng cộng sản. Nhưng xin ông đừng vơ vào vì ông chỉ nói cho riêng ông thôi. Làm gì có “chúng ta” ở đây hở ông Nguyễn Cao Kỳ?

Vơ vào coi bộ chưa đã, ông lại bổ thêm một búa sặc mùi độc tài. Ông khơi khơi dán nhãn “lăng nhăng”, chụp mũ “phản quốc” cho những ai không cùng quan điểm với ông. Thưa ông Nguyễn Cao Kỳ, bây giờ là giữa năm 2007 rồi không phải như hồi 65-67, thích bắn là ông lôi ra pháp trường cát ông ạ.

Trong bài quảng cáo sách năm 2002, Nguyễn Cao Kỳ cũng đã một lần vơ vào, và vơ vào rất hoành tráng. Với sinh viên De Anza College, Nguyễn Cao Kỳ lên giọng, “nhân danh tất cả người Việt Nam, tôi cảm ơn 58.000 người Mỹ bao nhiêu năm trước đã hy sinh đến mực tột cùng để bảo vệ tự do cho đất nước tôi.” (And, on behalf of all Vietnamese, I thank the 58,000 Americans who so many years ago made the ultimate sacrifice in defense of my country's liberty).

Cũng trong bài nói chuyện tiền “Việt kiều yêu nước” rất dài đó, ông Kỳ còn nói thêm một ý hơi lạ:

“... những cựu chiến binh thua trận, Việt Nam, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Thái Lan, Nam Hàn và tất cả những ai đã hỗ trợ cuộc chiến đấu vì tự do của chúng tôi – chúng ta không có lý gì phải xấu hổ. Ba mươi năm cai trị tồi cuối cùng đã chứng minh rằng, chúng ta – những người chống lại chế độ cộng sản – đúng.”

“Therefore I say today that the veterans of that lost war, Vietnamese and Americans, Australians and New Zealanders, Thais and South Koreans and all the others who supported our fight for freedom - we have no cause for shame. Thirty years of misrule prove conclusively that we who opposed the Communist regime were right!”

Thế là thế nào nhỉ? Chống lại chế độ cộng sản, chiến đấu vì tự do là chính nghĩa, là đúng. Nhưng nếu không như ông, ngả mũ chào, chấp nhận và giúp (nhà) nước (vẫn theo chủ nghĩa cộng sản, và quan trọng hơn, vẫn chuyên chế độc tài) giàu mạnh lại là “lăng nhăng”, là “lũ phản quốc”.

Như Nguyễn Cao Kỳ đã phát biểu trên bục, cũng hôm 23 tháng 6 ở Dana Point, “... Ở đây không có chuyện thua, được. Ở đây không có vấn đề Quốc, Cộng”, có thể đúng đấy. Tuy nhiên, vấn đề còn lại cho người Việt Nam ngày hôm nay, ở đây, là lựa chọn giữa:

– Động thái tích cực nhằm thay đổi để đất nước có dân chủ thật sự đem lại công bằng cho toàn dân, hay
– Chấp nhận ngả mũ trước chuyên chính độc tài để mưu cầu tư lợi – chạy theo bả vinh hoa của thiểu số đang cầm quyền.

Điều chắc chắn, dù đồng ý hay không, người viết hoàn toàn tôn trọng quyền lựa chọn riêng của Nguyễn Cao Kỳ chỉ xin nhắc ông, hãy công bằng, tôn trọng những người không cùng suy nghĩ với ông. Thế thôi.


© DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 15/07/2006)



Ghi chú:

(1) “People ask me who my heroes are. I have only one-Hitler.” (Marshal Ky, Sunday Mirror (London), July 4, 65, p. 1.)
(2) Former Viet Nam Prime Minister to Speak at De Anza College on June 13.
Đọc toàn văn bài nói chuyện tại đây


Triết đi Mỹ


Đổi tù nhân lấy hiệp định với hợp đồng


Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã rời Hà Nội đi Mỹ hôm thứ hai 18/06/2007. Đây là lần đầu tiên một người “đứng đầu” nước Việt Nam đi thăm viếng kẻ thù xưa sau hơn 32 năm cuộc chiến Việt Nam chấm dứt.

Đến thứ sáu 22/06/2007, Triết sẽ gặp Bush tại Nhà Trắng để cùng nhau chứng kiến cuộc ký kết hiệp định khung dọn đường cho chương trình mậu dịch tự do sau này giữa hai nước.

Triết sang Mỹ, đem theo một số bộ trưởng – Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm (kiêm bộ trưởng Ngoại Giao), bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân (Giáo Dục Đào Tạo), Nguyễn Trung Tá (Bưu Chính Viễn Thông), Nguyễn Văn Chiến (Văn phòng Chủ tịch) – cùng 1 đoàn thương nhân, dự kiến sẽ đến New York chiều ngày 18/06 và ghé thăm sàn chứng khoán ở đây và ký vài hợp đồng thương mại trong tuần.

Triết đến Hoa Kỳ lần này qua lời mời ngỏ của Bush tại Hội nghị Asia-Pacific Economic Cooperation (APEC) hồi tháng 11 năm 2006, ngay trước khi Việt Nam gia nhập WTO.

Nhiều công ty Mỹ đang hy vọng sẽ đặt cơ sở làm ăn tại Việt Nam vì nền kinh tế phát triển 7-8% mỗi năm, giá lao động rẻ, và cũng là điểm đầu tư đang nóng ở vùng Đông Nam Á châu.

Cũng như các công ty trong khu vực viễn thông, năng lượng, dịch vụ tài chính, Boeing hi vọng sẽ có đơn đặt hàng của Vietnam Airlines trong chuyến đi Mỹ của Triết lần này.

Xin chào máu của máu Việt Nam

Người Việt ở Mỹ
– Trong lộ trình thăm Mỹ của Nguyễn Minh Triết còn có Los Angeles gần quận Cam (Orange County), nơi sinh cư của khoảng 135.000 người tị nạn cộng sản. Đây còn là nơi Đảng Cộng Hòa có ảnh hưởng mạnh ngay trong cả tiểu bang California của Đảng Dân Chủ. Orange County còn được mệnh danh là khu chống cộng triệt để tại Mỹ.

Năm 2004 hội đồng thị xã ở Garden Grove và Westminster đã thông qua Nghị quyết khẳng định đây là vùng “phi cộng sản”

Đa số thế hệ người Việt hải ngoại lớn tuổi ở đây thù ghét cộng sản.

Trả lời câu hỏi của ký giả Rob Woollard “Tại sao lại thù ghét ông Triết thế?”, Nguyễn Đức Nam, ngưng ăn phở nói, “Vì họ là cộng sản. Tại sao họ lại được phép đến Hoà Kỳ. Cộng sản đã cướp đi tất cả những gì chúng tôi có.”

Khi Phan Văn Khải viếng thăm Hoa Kỳ năm 2005, hàng ngàn người vùng quận Cam đã xuống đường phản đối.

Tuy thế, không phải ai ở quận Cam đều hăng say trong làn sóng chống cộng.

Thế hệ thứ hai trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở đây quan tâm nhiều đến sự nghiệp, việc làm lương cao hơn là chính trị. John Trần, 23 tuổi chuyên viên software, nói “Bố Mẹ tôi hay nói về cộng sản. Cộng sản đã làm nhiều điều xấu tại Việt Nam. Nhưng tôi sinh ra và lớn lên ở Mỹ. Do đó cộng sản không phải là vấn đề tôi quan tâm nhiều lắm. Nếu có lo ngại, tôi lo những vụ như 9/11 xảy ra lần nữa chứ cộng sản thì tôi không để ý đến. Tôi nghĩ về sự nghiệp và việc làm nhiều hơn.”

Đỗ Quý Toàn, một nhà báo ở Westminster, cũng cho rằng chiến dịch chống cộng kéo dài vài thập niên qua ngày càng trở nên vô nghĩa với thế hệ trẻ, “Những người (Mỹ gốc Việt) ở tuổi 20 hay trẻ hơn, không biết về hiện tình Việt Nam, và học cũng chẳng care gì đến những việc như thế. Số đông trong lứa tuổi này là Mỹ nhiều hơn là Việt”. Đỗ Quý Toàn và gia đình rời Việt Nam vài ngày trước khi cộng sản vào đến Sài Gòn.

Theo giáo sư khoa Nghiên cứu Người Mỹ gốc Châu Á, University of California, Irvine, Linda Võ, thì thế hệ người Mỹ gốc Việt có tuổi sẽ chẳng bao giờ hết ác cảm với chế độ và lãnh đạo cộng sản: “Với những người đã trải nghiệm cuộc sống với cộng sản, kinh nghiệm đau thương vẫn còn ảnh hưởng sâu sắc trong cuộc sống thường ngày. Họ vẫn nhớ những hình ảnh đầy ải, những khổ nhọc kinh hoàng, những đau thương mất chồng, mất cha, mất người thân, v.v... Những tình cảm này sẽ không bao giờ nguôi ngoai. Vết thương lòng sẽ mãi rỉ máu, sẽ mãi mãi không lành.”


Triết sẽ phải nghe điếc cả tai – Nguyễn Minh Triết đã nhất trí sẽ bỏ toàn thời gian tại Mỹ dán mắt vào các con số ở sàn chứng khoán New York – (Nếu Triết) hiểu (người viết) chết liền – hay các những điểm đặc trưng của máy bay 787 Dreamliner hoặc những chi tiết trong các hợp đồng thương mại đã được chuẩn bị ký kết trước để chụp hình đăng báo Nhân Dân và TTXVN. Tuy thế ông Chủ tịch nước CHXHVN chắc chắn sẽ phải nghe đầy cả hai tai về những phê phán, những chỉ trích hồ sơ nhân quyền và những trấn áp dân chủ nhà nước cộng sản đã sống sượng vi phạm trong khoảng thời gian sau khi gia nhập WTO.

Nhân viên Nhà Trắng đã thông báo trước, Bush sẽ bày tỏ “quan tâm sâu sắc” với Triết về việc nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam hồ hởi đưa ra hội đồng chuột xét xử và tống giam hàng loạt những người không cùng chính kiến ở Huế, Sài Gòn và Hà Nội.

Và chắc chắn quốc hội, đa số thuộc đảng Dân Chủ, cũng sẽ không để yên cho Triết nhai sandwich ở bữa ăn trưa với Bush.

Tại Hoa Kỳ nhiều tổ chức ủng hộ dân chủ Người Mỹ gốc Việt đã chuẩn bị cả tháng trời để thực hiện cuộc biểu tình phản đối khi Triết gặp Bush ở Nhà Trắng vào ngày thứ sáu tới, 22/06/2007.

Quốc hội Mỹ chấp thuận cho chính quyền Bush bình thường hoá quan hệ thương mại với Hà Nội với điều kiện Mỹ sẽ phải theo dõi sâu sát hồ sơ Nhân Quyền tại đây.

Hà Nội đã nghiêm chỉnh hứa hẹn với quốc hội Mỹ là họ sẽ đánh bóng tập hồ sơ nhân quyền, dân biểu đảng Cộng Hoà Ed Royce nói, “nhưng đến nay thì chúng ta đều biết rằng tất cả đó chỉ lời nói láo và việc quan trọng bây giờ là chúng ta phải dũa te tua cái nhà nước Việt Nam về vấn đề này đã.”

Văn phòng chính phủ Mỹ đã tràn ngập thư do nhiều tổ chức, hội đoàn ở khắp nơi gởi đến than phiền về những vi phạm nhân quyền của Hà Nội, cùng lúc yêu cầu Bush “chuyển thông điệp rõ ràng, dứt khoát cho Hà Nội biết việc đàn áp công dân của nhà nước Việt Nam là điều Hoa Kỳ không thể chấp nhận được,” T. Kumar Giám đốc tổ chức Asia-Pacific cho biết.

Hai tuần trước Bush, Cheney và một số cố vấn trong Hội đồng An ninh Quốc gia (HĐANQG) đã tiếp đại diện của bốn tổ chức vận động dân chủ của người gốc Việt. Nhân dịp này, người phát ngôn của HĐANQG, Gordon Johndroe, nói: “Khi nền kinh tế và đổi mới xã hội đang phát triển thì việc đàn áp người dân chỉ vì ôn hoà phát biểu những quan điểm riêng là động thái lạc hậu và mâu thuẫn với nguyện vọng muốn hiện đại hoá và giàu mạnh cũng như giữ vai trò nổi bật hơn trong cộng đồng thế giới.”

Trước khi đi Mỹ, Triết đã mở cuộc họp với báo giới Hoa Kỳ để biện hộ cho hành động đàn áp dân chủ của Hà Nội cũng như phủ nhận tất cả thông tin cho rằng nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Triết nói với New York Times, “Việt Nam đã trải nghiệm chiến tranh và hiểu rõ việc mất nhân quyền và không có tự do. Vì thế chúng tôi cực kỳ yêu chuộng những quyền căn bản của con người Nhưng nếu ai vi phạm luật pháp, chúng tôi phải thẳng tay trừng trị”.

Nói vậy mà không phải vậy. Cũng trước khi Triết được bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam cho phép đi Mỹ, Lê Văn Bàng (thứ trưởng bộ Ngoại giao) đã chạy “tiền trạm” xấc bấc sang bang qua Mỹ xin xỏ hứa hẹn thả tù để xoa dịu Washington, D.C.

Và vẫn cái mửng láu cá, không đưa chi tiết tên tù nhân, Hà Nội vẫn có thể muối mặt thả những phạm nhân thuộc hàng “đâm cha, chém chú, .. úp chị dâu” và gọi đó là những người tù vì không cùng chính kiến.

Đến hôm nay, 18 tháng 6, Triết đã lên đường sang Mỹ Hà Nội mới thả Nguyễn Vũ Bình hôm 9 tháng 6 (người tù Hà Nội đã hứa phóng thích từ dịp APEC) và len lén để Lê Quốc Quân về nhà với gia đình hai ngày trước, 16/06. Hà Nội hứa phóng thích tù nhân làm qùa để Triết nhập cảnh Mỹ vẫn còn thiếu. Người tù thứ ba là ai, khi nào mới phóng thích?

Một nhân viên ngoại giao (không cho biết tên) xác nhận với AFP là Mỹ sẽ tiếp tục áp lực Việt Nam thả những người tù vì ôn hoà phát biểu chính kiến và để Hà Nội tự do lý giải nguyên nhân thả tù, thế nào cũng được miễn là phóng thích tù nhân.

Cũng thế, đa số người Việt khắp nơi đều mong thấy tất cả những người bị tù vì không cùng chính kiến ra khỏi lao xá bất kể đó là ai, bị tù trước hay sau Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Lê Nguyên Sang, Huỳnh Nguyên Đạo, Nguyễn Bắc Truyển, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, hay Trần Quốc Hiền, v.v...

Tuy nhiên, khả năng Hà Nội phóng thích ngay một trong những tù nhân nêu trên rất nhỏ. Chẳng lẽ vừa bịt miệng vừa kết án tù lâu năm họ vì phạm luật hình sự lại thả ra ngay bị áp lực từ các “thế lực thù nghịch” và bọn “phản động lưu vong”? Như thế thì nhà nước CHXHVN lại kẹt vào thế “nhổ ra xong lại liếm vào”.

Biết đâu đấy, “nhổ ra xong lại liếm vào” để Triết đi Washington, D.C. đổi lấy hiệp định khung và vài ba cái hợp đồng thương mãi cũng có thế sẽ xảy vì Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam nổi tiếng thế giới là những người liệt giây thần kinh xấu hổ; Đấy là chưa kể còn liệt những chỗ khác.

Còn gần 1 tuần lễ, nhắn nhỏ với ông Triết thế này: nhớ năn nỉ Bộ Chính trị “fax” câu trả lời trước khi gặp Bush ở Nhà Trắng. Cố gắng học thuộc lòng. Đừng thò tay vào túi mông, móc tờ giấy gấp tư nhàu nát và ngớ ngẩn đọc như Phan Văn Khải năm nào thì nhục chết được đấy.

Người Việt khắp nơi cũng đang đợi đến thứ sáu 22/06/2007 để xem Bush bày tỏ “quan tâm sâu sắc” ra sao hay chỉ đưa Triết ra hành lang Nhà Trắng cho xem dân chúng đang biểu tình phản đối bên ngoài.



© DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 18/06/2007)


Người Việt ở Mỹ – Vẻ vang dân Việt?



Nghiên cứu về Cộng đồng Người Mỹ (American Community Survey, ACS) là một yếu tố quan trong của Chương trình Điều tra dân số Thập niên 2010 của Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ.

Bắt đầu thực hiện đầy đủ từ năm 2005, ACS là nghiên cứu dân số lớn nhất tại Hoa Kỳ với con số thăm dò khoảng 3 triệu đơn vị gia cư trải khắp nước Mỹ.

Báo cáo ACS (2/2007)
Nguồn: U.S. Census Bureau
Bài viết sau đây trưng dẫn một vài số liệu trong chuỗi báo cáo thuộc ACS mô tả chân dung dân cư gốc châu Á tại Hoa Kỳ. Những số liệu thông tin về người Mỹ gốc Á châu dùng trong bài về nhân khẩu, xã hội, kinh tế, gia cư dựa trên tài liệu ACS năm 2004 vừa được công bố tháng 2, 2007 (1).

Theo định nghĩa của chính phủ liên bang Hoa Kỳ “Người Á châu” gồm các sắc dân từ vùng Viễn Đông, Đông Nam Á hoặc ở lục địa Ấn Độ như “người Ấn Độ” (Asian Indian), “người Phi Luật Tân” (Filipino), “người Đại Hàn” (Korean), “người Nhật Bản” (Japanese), “người Việt Nam” (Vietnamese), hay “những người Á châu khác” (Other Asians) hoặc “người Miến Điện (Burmese), “người Hmong” (Hmong), “người Pakistan” (Pakistan) hay “người Thái Lan” (Thai).

Báo cáo ACS gồm số liệu thống kê về các sắc dân có hơn 250.000 người đang sống tại Hoa Kỳ như Ấn Độ (Ấn), Trung Quốc (Trung), Phi Luật Tân (Phi), Nhật Bản (Nhật), Đại Hàn (Hàn) và Việt Nam (Việt).


Vài nét chính trong báo cáo ACS — Tuy người Mỹ gốc Á sống khắp nơi trên lãnh thổ Hoa Kỳ, đa số sinh cư tại California (35%), New York (10%), và Texas (6%).

So với người Mỹ da trắng-không phải gốc châu Mỹ La tinh hay Tây Ban Nha (non-Hispanic White), dân gốc châu Á trẻ hơn, lập gia đình nhiều hơn. So với người Mỹ da trắng, phụ nữ Á châu sinh sản nhiều hơn.

Người Á châu cũng có tỉ lệ tốt nghiệp đại học và mức lương trung bình cao hơn. Một số lớn người gốc châu Á làm việc trong nghành quản trị, là các chuyên viên hay các ngành nghề liên hệ. Thường, người Á châu nói tiếng Anh với nhau trong nhà hay nói tiếng Anh rất thông thạo. 70% người gốc Á châu là công dân Mỹ, đã sinh ra hoặc trở thành công dân tại đây.

Trong nhóm người gốc châu Á, dân Nhật có số tuổi trung bình cao nhất (nhiều người cao niên hơn những sắc dân khác) và tỉ số dùng tiếng Anh ở nhà làm ngôn ngữ chính cung cao hơn cả. Người Ấn và Việt là hai sắc dân có nhiều thiếu niên (dưới 18 tuổi) nhất. Gần 50% người Mỹ gốc Á tốt nghiệp cử nhân hay cao hơn. Người Ấn và Phi là sắc dân Á châu có lợi tức trung bình cao nhất. Tỉ lệ người nghèo cao nhất trong các cộng đồng người Hàn, Việt và Trung. Người Á châu, trừ Việt Nam, ở nhà trị giá trung bình 300.000 đô-la Mỹ hay cao hơn.


Người Việt Tại Hoa Kỳ

Hơn ba mươi năm qua, từ khi người Việt di cư sang Mỹ hay tị nạn chính trị đã có khá nhiều bài viết, sinh hoạt, chương trình truyền thông ca ngợi thành đạt của dân Việt Nam khắp mơi, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Có tác giả đã cố gắng thu thập thông tin và tài liệu viết thành sách (“Vẻ vang dân Việt”, Trọng Minh) và có cả chương trình phát hình (Saigon Broadcasting Television Network - SBTN, Vẻ Vang Dân Việt với Trọng Minh), phát thanh (Radio Việt Nam Hải Ngoại, Hệ thống Truyền thông Việt Nam Hải ngoại, Vẻ Vang Dân Việt ) hay cả tại các diễn đàn trên mạng Internet (Vinanet forum: Vẻ Vang Dân Việt), v.v...

Không những chỉ có “vẻ vang dân Việt” ở tại các cộng đồng người Việt ở nước ngoài, trong nước, đảng cộng sản cũng không bỏ lỡ cơ hội dùng danh hiệu “Vinh danh nước Việt” qua các màn vinh danh Việt Kiều do Mặt Trận Tổ Quốc tổ chức hàng năm nhờ “sáng kiến” của Báo điện tử VietNamNet; Và tương tự như người Việt hải ngoại, báo Tổ Quốc (Báo điện tử của Bộ Văn Hoá – Thông tin) cũng “Vẻ vang dân Việt”.

Không còn nghi ngờ và cũng không thể tranh luận, những Việt kiều được “vinh danh” đã có những đóng góp không nhỏ với nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam. Đa phần những Việt kiều đó cũng là những cá nhân thành đạt. Đóng góp của họ có thể là vật chất hay những đóng góp có lợi về mặt tuyên truyền chính trị, kiều vận mà tiền tươi (đô-la xanh hay ơ-rô đỏ) cũng khó bì. Để cho báo Đảng đăng tên “vinh danh” cũng đã là một đóng góp tuyên truyền lớn.

Cũng thế, những người Việt đã “Vẻ vang dân Việt” được nêu tên, được đề cao tại hải ngoại là những cá nhân người gốc Việt xuất sắc.

Đúng. Đó là những người Việt xuất sắc, thành công. Tuy nhiên, xem đó là những trường hợp vẻ vang (cá nhân) người Việt có lẽ thích hợp hơn chăng? Gọi là “Vẻ vang dân Việt” hay “Vinh danh nước Việt” e có chiều phiến diện, vơ vào, và hơi thiếu khách quan, không nhìn tổng thể sự thật. Những ông bà Việt kiều “Vinh danh nước Việt” hay những người Việt hải ngoại trong danh sách “Vẻ vang dân Việt chỉ là một góc nhỏ, rất nhỏ, của bức tranh toàn diện gồm hơn 3 triệu người Việt đang sinh sống khắp nơi trên thế giới. Cũng không nghi ngờ gì, còn rất nhiều người Việt khác, cũng thành đạt cũng xuất sắc nhưng đâu đã nằm trong sách, hay được vinh danh trên báo đài hàng năm. Vắn tắt, đấy là những cá nhân thành công và xuất sắc; đáng quý, đáng mừng và xin chúc vui với tất cả các cá nhân đó

1. Phân bố, thời điểm nhập cư, thành phần dân số – Với một vài số liệu vừa được công bố từ Nghiên cứu về Cộng đồng Người Mỹ người đọc có thể nhìn rõ hơn cận ảnh, chân chung của cộng đồng người Việt đang sống tại Hoa Kỳ. Theo ACS, người Việt tại đây chiếm khoảng 10,5% tổng số người Mỹ gốc châu Á (không kể người Á lai các sắc dân khác). Người Việt tại Mỹ là cộng đồng lớn thứ 4 sau người Trung, Ấn, và Phi, xấp xỉ người Hàn và lớn hơn các cộng đồng Nhật, Lào, Pakistan, Cam bốt, Hmong, Thái Lan và Đài Loan. Hơn 50% trong 1.267.510 người Việt nhập cư vào Mỹ từ sau 1990: đã sống hơn 16 năm tại Hoa Kỳ. Xem Bảng (1) và (2).

Nguồn: U.S. Census Bureau

Nguồn: U.S. Census Bureau


Bảng số liệu (3) cho thấy phân bố dân số Á châu theo lứa tuổi. Người Việt tại Hoa Kỳ là cộng đồng Á châu “trẻ” thứ hai sau người Ấn. Và trong cộng đồng người Việt tại đây, 73,5% là người dưới 44 tuổi và có gần ¼ là thiếu niên dưới 18.

Nguồn: U.S. Census Bureau


2. Xã hội – Về mặt xã hội tài liệu ACS cho biết một nét văn hoá Việt Nam mới, ít được biết đến trong cộng đồng người Á châu ở Mỹ. Đây cũng là một “mở mắt” cho chính người viết. Bảng (4) theo sau trình bày số liệu về khả năng sinh sản của phụ nữ Mỹ gốc Á châu. Phụ nữ, ở số liệu về khả năng sinh sản, theo định nghĩa của Nghiên cứu về Cộng đồng Người Mỹ nằm trong khoảng 15 đến 50 tuổi.

Đứng đầu bảng khả năng sinh sản là phụ nữ Ấn tại Hoa Kỳ; điều này không phải là một ngạc nhiên vì dân số của cộng đồng trẻ trung này có đến 75,7% dưới 44 tuổi. Cuổi bảng sinh nở là phụ nữ Đại Hàn, cộng đồng sắc tộc có 67,5% dưới 44 tuổi. So với Đại Hàn thì phụ nữ Việt tại Hoa Kỳ, tuy không phải hàng đầu như đàn bà Ấn Độ nhưng có thể đưa vào hạng “mẹ quốc tế”. So với đàn bà Hàn quốc chỉ sinh có 45,9 lần trong năm, cứ 1000 phụ nữ Việt thì có đến 71.8 lần sinh trong 12 tháng trước khi cuộc thăm dò bắt đầu. Nhưng kỷ lục của người (phụ nữ) Việt chưa phải ở đây; cột kế bên trong cùng Bảng (4) cho thấy đàn bà Việt Nam ở Mỹ không phải thuộc hạng “thế gian sự thường”. Người (phụ nữ) Việt chúng ta ở Mỹ vô địch về khâu “không chồng mà chửa”. Đứng đầu bảng khả năng sinh sản, trong số các bà mẹ Việt Nam tại Mỹ thì có đến 18,6% là phụ nữ độc thân. Một tỉ lệ siêu vượt trung bình của phụ nữ Á châu trong khi con số này của các bà mẹ người Nhật và Đại Hàn quá nhỏ để “được” lên bảng.

Nguồn: U.S. Census Bureau


Đây là một nếp văn hoá mới hay là một chọn lựa tân thời, là lối hội nhâp với xã hội của phụ nữ Việt tại Mỹ? Computer của Cục Điều tra Dân số Mỹ crashed, cháy cầu chì, hư ổ cứng, hay hỏng bộ nhớ? Nếu không phải như thế, có lẽ, các tổ chức dân sự cung cấp dịch vụ xã hội phụ nữ cũng như bậc làm cha mẹ cần quan tâm về vấn đề giáo dục sinh lý cho thanh thiếu niên hơn nữa tại các vùng có đông dân Việt như California, Texas và New York.

Nguồn: U.S. Census Bureau


Về tổ chức gia đình, Bảng (5) cho thấy gia đình người Việt “đông” thứ nhì sau người gốc Phi và có tỉ số gia đình có-đủ-chồng-vợ thấp nhất trong cộng đồng người châu Á. Một điểm đáng chú ý khác ở đây, số phụ nữ Việt đứng đầu gia đình (không có đàn ông) xếp hạng nhì sau Phi Luật Tân. Và cũng đáng kể, số đàn ông Việt Nam (không có đàn bà) làm chủ gia đình đứng hàng đầu trong cộng đồng Á châu ở Mỹ. “Non-family” là đơn vị gia cư của người độc thân hay sống chung với người không liên hệ.

3. Quốc tịch, khả năng nói tiếng Mỹ và học vấn – Theo thống kê ở Bảng (2): Phân bố dân số theo năm nhập cư Mỹ, cộng đồng người Việt ở Mỹ có thể xem là một cộng đồng “tương đối” lâu đời nhất, 90,8% đã sinh sống tại Hoa Kỳ từ 13 năm (tính đến 2004) hay lâu hơn. Bảng số liệu (6): Phân bố dân số theo quốc tịch, cũng cho thấy cộng đồng người Việt có tỉ số là công dân Mỹ cao nhất, 79,1% sinh tại Mỹ, có cha hay mẹ là công dân Mỹ hoặc đã trở thành công dân Mỹ. Nhưng ở Bảng số liệu (7), về khả năng Anh ngữ, cho thấy cộng đồng người Việt “gìn giữ tiếng nước nhà” cao nhất: chỉ có 11,8% dân Việt chỉ nói tiếng Mỹ ở nhà so với 16,9% người Hàn hay 53% người Nhật. Và có phải đó là nguyên nhân của một “cái nhất” khác? Cộng đồng người Việt ở Mỹ có tỉ số người kém khả năng Anh ngữ (nói tiếng Anh kém hơn “very well”) cao nhất 55,1% so với 47,6% người Trung Quốc và 48,9% người Đại Hàn.

Nguồn: U.S. Census Bureau

Nguồn: U.S. Census Bureau


Thống kê ở Bảng số liệu (7) còn có khả năng là hệ quả hay/và phản ảnh trung thực của thống kê ở Bảng (8): Mức độ học thức. Ở thống kê này, cộng đồng người Việt có tỉ số người có học lực dưới trung học nhiều nhất, 30% dân số. Con số người Việt tại Mỹ tốt nghiệp cử nhân và có bằng hậu đại học cũng là tỉ số thấp nhất trong cộng đồng người Mỹ gốc Á châu, 23,5%, và dưới hơn cả trung bình toàn nước Mỹ.

Nguồn: U.S. Census Bureau


4. Kinh tế: Nghề nghiệp, lợi tức và gia cư – Số liệu về phân bố nghề nghiệp, thu nhập trung bình, tỉ lệ nghèo và trị giá nhà ở của người Việt ở Mỹ nằm trong 3 Bảng (9), (10, và (11).

Nguồn: U.S. Census Bureau


Bảng số liệu (9): Phân bố nghề nghiệp, cho biết tỉ số người Việt tại Hoa Kỳ làm nghề lao động xí nghiệp và vận tải hàng hoá cao nhất trong cộng đồng châu Á, 21,0%. Người Phi và Hàn là hai sắc dân có tỉ lệ dân hành nghề lao động cao ngay sau Việt Nam, khoảng 10%. Cũng theo thống kê này, tỉ lệ người Việt tại Mỹ làm việc trong ngành quản trị và chuyên nghiệp thấp nhất so với những sắc dân gốc châu Á khác, 29,2% so với 60,6% người Ấn (cao nhất) và 43% người Đại Hàn (thấp nhất, nhưng hơn Việt Nam). Mực thu nhập gia đình trung bình, Bảng (10), phản ảnh lựa chọn và phân bố nghề nghiệp trong cộng đồng người Việt. Tỉ lệ nghèo cũng thế, người Việt ở Mỹ có lợi tức gia đình trung bình hàng năm là 45,980 USD và tỉ số nghèo là 14%. Ở thống kê này, sắc dân có thu nhập kém hơn người Việt và tỉ lệ nghèo tương đương là cộng đồng Đại Hàn với lợi tức gia đình trung bình 43.195 USD và 14,9% là tỉ số người nghèo.

Nguồn: U.S. Census Bureau


Nguồn: U.S. Census Bureau


Mực nghèo theo định nghĩa dùng trong nghiên cứu trích dẫn tuỳ theo gia đình ít hay nhiều người; thí dụ một gia đình 3 người có một trẻ dưới 18, được xem là nghèo nếu lợi tức gia đình ít hơn 14.974 $USD/năm. Tình trạng nghèo được đánh giá cho tất cả mọi người trên 15 tuổi trong cuộc thăm dò.

Bảng (11) liệt kê tỉ số người trong cộng đồng đang ở nhà mua và trị giá trung bình của gia cư. Thống kê này cho thấy người Việt (cũng như người Phi, Nhật, Trung) thích ở nhà mua hơn là đi thuê. Có 61,3% người Việt đang ở nhà mua tại Mỹ. Một lần nữa, người Việt ở Mỹ lại đứng đầu bảng thống kê. Trị giá trung bình của gia cư của người Việt là 207.577 USD, thấp hơn tất cả nhà của các sắc dân châu Á khác, khoảng 2/3 trị giá nhà của người Ấn xếp hàng ngay trên, 309.377 USD.


Cận ảnh người Việt ở Mỹ

Khi nói đến người Việt tại Hoa Kỳ, có lẽ vẫn không đủ nét dù có liệt kê hết tên người Việt ở Mỹ trong 5 tập Vẻ vang dân Việt và tất cả một đội ngũ khoa học gia tầm cỡ gốc Việt của Cơ quan Hàng không và Không gian Quốc gia Mỹ, cùng tất cả Việt kiều Mỹ được Hà Nội cho danh hiệu “Vinh danh nước Việt”, cũng như tất cả người Việt đã từng nhận giải “Đuốc Vàng” của VANG (Vietnamese American National Gala), v.v... Một cách khác “Vẻ vang dân Việt” có ra đến tập 15 cũng không cho thấy chân dung thật của tập thể người Việt ở Hoa Kỳ.

Thật ra, theo ACS người Việt ở Hoa Kỳ là một cộng đồng trẻ trung, khoảng 1,3 triệu người, lớn hàng thứ 4 trong khối dân Á châu.

Về mặt xã hội, gia đình người Việt, trung bình, đông hơn các sắc dân khác; khả năng sinh sản của phụ nữ Việt cao thứ nhì; Đặc biệt, tỉ lệ phụ nữ Việt Nam độc thân sinh con cao nhất trong các sắc dân gốc châu Á. Người Việt ở Mỹ còn đứng đầu về cả hai tỉ lệ “single mom” và “gà trống nuôi con”.

Về mặt hội nhập và học lực, người Việt có tỉ số cao nhất là công dân Mỹ trong khối người Mỹ gốc Á, có trình độ học thức thấp nhất, và tỉ số cao nhất những người nói tiếng Anh kém so với tất cảc các sắc dân gốc Á châu khác.

Công nhân gốc Việt ở Hoa Kỳ
Nguồn: rapiddisplays.com
Về đời sống kinh tế, nghề nghiệp, thu nhập và nhà ở, người Việt ở Hoa Kỳ cũng có thêm vài cái nhất khác so với các sắc dân Á châu: Tỉ lệ người làm ở tầng lớp quản trị và chuyên gia thấp nhất; tỉ lệ người Việt làm trong hai ngành dịch vụ và lao động xí nghiệp cao nhất và cũng cao hơn trung bình toàn quốc. Thu nhập gia đình trung bình và tỉ số người nghèo của người Việt chỉ thấp nhất nhì xấp xỉ với người Đại Hàn; Tỉ số người Việt mua nhà ở cao hơn người Ấn và Hàn nhưng có trị giá trung bình thấp nhất.

Nhận định, phân tích có thể còn nhiều thiếu sót, sơ xuất nhưng những con số chẳng khi nào nói dối hay “nổ” được. Nghiên cứu về Cộng đồng Người Mỹ, ACS cho chúng ta một cận ảnh khá rõ về thực tế người Việt tại Hoa Kỳ.

Tóm lại, sau môt thời gian, 13 năm hay hơn, cộng đồng người Việt tại Mỹ đã có những phát triển tích cực và thành đạt nhất định. Tuy nhiên thống kê của Nghiên cứu về Cộng đồng Người Mỹ đã đưa ra một vài tín hiệu đáng quan tâm: tỉ số nghèo cao nhất nhì, tỉ lệ người lao động cao nhất – tỉ lệ thuận với trình độ học vấn và khả năng Anh ngữ kém nhất, và tỉ số phụ nữ độc thân sinh con gấp đôi trung bình của người gốc Á châu và gần bắt kịp người Mỹ da trắng. Những tổ chức xã hội dân sự người Việt ở Hoa Kỳ cần khẳng định đó là vấn nạn xã hội cần có phương án khả thi, hiệu quả để điều chỉnh.

Một tác giả và cũng là một trong những người được nêu tên trong “Vẻ vang dân Việt”, viết

“... Tôi viết tặng các bạn trẻ, lòng những mong rằng thế hệ của tôi chỉ là lớp người đi trước đặt những viên đá sơ sài lót đường... Sau này các bạn sẽ đạt được những thành công rực rỡ xây thành một đại lộ thênh thang cho toàn thể những người Việt cùng tiến bước, cho non sông được mở mặt với đời. Mong mỏi các bạn được giải thưởng Nobel về khoa học, hay một giải văn chương quốc tế, hay giải Oscar về điện ảnh...”

(Trích Theo Ánh Tinh Cầu, Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh, Đại Nam, 1991)


Như tác giả Toàn Phong – có lẽ còn rất nhiều người Việt khác, và người viết cũng thế – mong thấy “một đại lộ thênh thang cho toàn thể những người Việt cùng tiến bước, cho non sông được mở mặt với đời”. Dù đã có khá nhiều đá lót đường, thành đạt mẫu mực của nhiều cá nhân, nhưng với chân dung người Việt ở Mỹ báo cáo ACS vừa phổ biến e rằng chúng ta và thế hệ sau còn phai bươn chải nhiều năm ở các ngõ ngách trước khi tìm được Exit ra đường cái, vào “đại lộ thênh thang” để may ra sẽ thấy “non sông được mở mặt với đời”.

Vẻ vang dân Việt?

Chưa! Chẳng còn nghi ngờ gì nữa.



© DCVOnline
(http://www.danchimviet.com, 27/03/2007)




Ghi chú:
(1) The American Community—Asians: 2004, American Community Survey Reports, ACS-05, U.S. Departement of Commerce, Economics and Statistics Administration, U.S. Census Bureau, Issued February 2007.

Bạn đọc có thể tham khảo thêm về phương pháp thu thập số liệu, sai số của thống kê, và những thông tin khác tại Asian and Pacific Islander Populations, Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ.